03 February 2007

Thư Cuối Năm

Trần Khải Thanh Thủy

Thưa toàn thể bà con cô bác dân oan ba miền!
Cùng các sáng lập viên hội Dân Oan Việt Nam

Thấm thoắt đã gần hai tháng kể từ ngày thành lập hội. Giữa trưa vắng, nắng ngời chân tóc, cùng với sự trợ lực của thiên nhiên, của lòng người, và của đạo trời mà hội Dân Oan Việt Nam ra đời. Sau bao nhiêu ngày "tro than nhếch nhác", "bới rác kiếm ăn"
Khỏi phải nói đến sự vất vả khó nhọc của một tổ chức mới manh nha hình thành, trong điều kiện "mái non, con dại", thiếu đủ mọi thứ kinh nghiệm, cả về tổ chức cũng như đường lối, phương pháp, lại phải chống "thù trong, giặc ngoài". Những kẻ cuồng tín, qúa khích như Phạm Thị Lộc, nhà sư hổ mang Lý thị Hà( tức Thích Đàm Thoa), Hồ thị Bích Khương, Đỗ thị Minh Hằng...cứ nhảy dựng lên như cào cào rang trên chảo nóng, nhận những đồng tiền bẩn thỉu từ tay một kẻ sát nhân, giấu mặt, bằng mọi cách trấn áp bà con, phá tan tổ chức. Từ việc xúi giục, khích bác bà con phải đứng vào chụp ảnh, viết đơn tố cáo lần này, lần khác lên mạng, mua chữ ký của bà con (mỗi người 5 USD), rồi vừa doạ vừa dỗ vừa đe để lấy được càng nhiều chữ ký càng tốt, hòng coi như một bằng chứng chống đối, cấu kết, lật đổ.




Suốt hơn một tháng trời, phe của bùn lấn lướt phe của sóng, hất bùn bẩn lên mặt những người có tâm huyết với hội, ủng hộ sự ra đời của hội dân oan Việt Nam .Nào chấn giữ cửa các nhà trong ban điều hành, đại diện, nói xấu, dựng chuyện, chặn chân , không cho các thành viên chủ chốt của hội được nhóm, họp, nào canh giữ vườn hoa không cho những người này đem máy ảnh đến chụp cảnh bà con dân oan khiếu kiện, cấm không được dự lễ giáng sinh cùng bà con tại vườn hoa, nào tung tin đồn nhảm, doạ dẫm, gây mất đoàn kết ... Nhưng sự thật luôn có đường đi của nó. Nhờ sự ủng hộ của các nhà dân chủ như bác Nguyễn Thế Đàm, bác Hoàng Minh Chính, chú Trần Khuê, Viện sĩ Nguyễn Thanh Giang, bác Lê Hồng Hà, Anh Đỗ Nam Hải, mục sư Nguyễn Công Chính, nhà văn Du Lam, luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư lê thị Công Nhân, Kỹ sư Nguyễn Phương Anh v.v và cộng đồng Hải Ngoại, nên cái xấu đã tự co cụm lại, phơi trần sự thật trước bà con dân oan 3 miền. Hai kẻ viết đơn tố cáo là Lý thị Hà và Hồ thị Bích Khương đã phải lộ diện, tự thú nhận bị người khác xúi giục, kích động, cho tiền mà đứng tên trên đơn tố cáo, chứ thực chất không có một chữ nào của mình cả. Phạm thị Lộc cũng bị bà con cô lập, dù lồng lộn về tận Bắc Giang, quê ả, hay trấn giữ tại vườn hoa, cũng không bắt được ai ký tên ủng hộ thị trong đơn tố cáo, đành phải tự mình bịa tên, ký thay cho cả loạt người, cũng bị bà con bóc mẽ, đem bản phô tô coppy trình ra cho tất cả mọi người cùng biết âm mưu bỉ ổi, thâm độc hèn ác của ả. Kể cả việc nhận 2 triệu để súi giục bà con đi ô tô sang nhà sáng lập viên TKTT la ó, tố cáo, khao bà con một bữa "tẹt ga" v.v cũng bị bà con phản đối, chỉ mặt và bóc mẽ... Hai kẻ cùng tranh nhau một khúc xương (từ kẻ sát nhân giấu mặt) là Hồ thị Bích Khương và Phạm thị Lộc, đã cãi lộn, xỉ vả nhau bất phân thắng bại tại vườn hoa... kết quả, phe của bùn đã tự tan rã, phe của sóng mỗi ngày thêm định hình, thắng thế, rũ bùn đứng dạy sáng loà, đoàn kết thương yêu nhau trở lại. Không những cùng giúp đỡ nhau tại vườn hoa, còn thường xuyên phối hợp hỗ trợ cho các đoàn biểu tình từ Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hải Phòngv.v... đến trụ sở tiếp dân trung ương( số 1 Mai Xuân Thưởng) hay ban điều hành chống tham nhũng Trung Ương( số 1 Hoàng Văn Thụ) , giúp bà con cất cao tiếng nói, không thụ động , ù lì trước những kẻ tội đồ, bao che cho bè nhóm lãnh đạo địa phương- những kẻ đang tâm cướp bóc mình, đẩy cả gia đình mình vào con đường cụt không lối thoát. Tính đến giờ phút này, hội đã chính thức nhận được 1.300 USD và 900 UAD ủng hộ của bà con Việt Kiều, gồm :
-400 USD của chị Hạ Uyên và uỷ ban liên minh nhân quyền Việt Nam
-200 USD của đảng Thăng Tiến
-100 USD của chị Chi(Mỹ)
-200 USD của Anh Trần Hùng và Đoàn Thi (Mỹ)
-100 USD do chị Trâm Oanh(Đức) chuyển
-300 USD của bác Nguyễn Đôn (Mỹ) .
- 400 UAD (tiền Úc) của nhóm Lockheed do anh Văn Trọng Việt chuyển
Ngoài ra còn 500 UAD từ Úc, gửi riêng cho 400 bà con dân oan tại Tây Nguyên thông qua Mục sư Nguyễn Công Chính ...
Nghĩa nặng tình sâu, biển khổ mênh mông, từ giờ tới tết cổ truyền của dân tộc , chắc chắn bà con dân oan ta còn nhận được nhiều hơn nữa những tấm lòng tình nghĩa của bà con Hải Ngoại, những người máu đỏ da vàng, sinh ra từ bọc trứng của mẹ Âu Cơ và bố Lạc Long Quân, vì hoạ cộng sản xâm lấn, cưỡng chiếm mà phải bỏ mái ấm tổ tiên để ra đi, bỏ lại sau lưng bao nỗi niềm đau đớn, khắc khoải, day dứt, nuối tiếc khôn cùng.
Nay máu chảy ruột mềm, máu chảy đến đâu, ruột đau đến đấy, đất nước đang bị những bàn tay vấy bẩn của giặc đảng giày xéo, bóp nát. Tương lai dân tộc đang đắm chìm bởi sự độc tài, ngu dốt, ác tâm của chúng. Số phận hàng triệu dân oan Việt Nam chỉ còn là bộ xương trên mâm vàng, chén ngọc của đảng. Những con giòi đỏ ở Ba Đình càng ngày càng hoành hành, hạch sách, cướp bóc nhiễu nhương, đến mức béo múp, căng tròn. Chưa đủ còn tuồn tiền bạc ra ngoài biên giới để con cái mua trang trại, sắm biệt thự. Bao nhiêu yết hầu kinh tế, từ sân golf, hãng ta xi, nhà hàng, khách sạn trải dài khắp từ Bắc tới Nam đều nằm trong tay bọn giòi con (thông qua số tiền cướp bóc đất đai, nhà cửa, ruộng vườn của cả triệu triệu bà con dân oan khắp 64 tỉnh thành cả nước). Thật không còn sự khổ nhục nào trên thế giới sánh bằng. Làm người ai cũng hiểu nhu cầu khởi thuỷ của con người là ăn, mặc ở. Ăn thì hai bữa cơm không, kèm đậu phụ luộc chấm muối. Một cái bánh mì 500 đồng cũng không dám ăn, vì quy ra thóc là mất toi một lạng gạo, trong khi chỉ 2 lạng gạo đã đủ một bữa no "căng rốn" đến tận trưa, hoặc chiều. Mặc cũng toàn đồ thừa thải loại của bà con anh em nội ngoại. Còn ở thì - mái nhà - nơi trú ẩn duy nhất trên mặt đất - đã bị người của đảng cho bốc bay theo những dự án ma, trung tâm du lịch lừa, siêu thị ảo... khiến bà con phải lốc nhốc kéo nhau ra đường. Con trai làm cửu vạn, con gái bán trôn nuôi miệng, bố mẹ già lăn lóc nơi vườn hoa Mai Xuân Thưởng, khiến bất cứ ai đi qua cũng phải mủi lòng, bởi đến con vật cũng phải có chỗ ở nữa là con người... Ổ rơm, hang động, gốc cây, bụi rậm là chỗ ở của con vật . Còn con người là một mái nhà. Ngoài việc che nắng che mưa, còn là nơi hình thành gia đình, gia tộc, nơi nuôi dưỡng các thế hệ, nơi di dưỡng tình cảm, phẩm cách con người...vậy mà ..những kẻ bạo liệt, tàn nhẫn, thú tính, vốn ý thức rõ hành động của mình, vẫn nhẫn tâm đuổi bà con ra đường theo nguyên tắc: Đất đai, rừng núi, tài nguyên thiên nhiên...tất cả đều là của đảng. Vì vậy cứ Đảng ta tiến vào là người dân mất nhà. Đời người vương vất, lang thang. Người 5 năm, người 7 năm, người 18 năm. Cao niên như bà Nguyễn thị Kỷ (Thái Bình), nghe theo lời khuyên của đảng đi kinh tế mới mà mất sạch. Kinh tế đâu chẳng thấy , chỉ thấy cái mới nhất là nấm mồ chôn đứa con gái bé bỏng tội nghiệp chưa đầy 10 tuổi, vì khí hậu khắc nghiệt nơi thung thổ. Rét quái tai, nắng sám da, bỏng lưng, nứt mặt, một ngày đủ cả 4 mùa xuân, hạ, thu, đông...Lời khuyên đã thành lời khuyến cáo, bà bỏ về trung ương theo kiện từ đầu thập kỷ 1980, đằng đẵng 27 năm trời đội đơn, kêu gào, thưa gửi, kiện tụng, bao nhiêu công sức bỏ ra, tưởng có thể lấp biển, dời non được mà một tấm giấy quyết định mỏng tèo, nhẹ bẫng từ trung ương xuống địa phương bắt trả lại nhà cho bà không xong... mặc bà vật vờ như ma đói ở xó vườn hoa cùng cả trăm, ngàn, vạn, triệu bà con đồng cảnh ngộ, khắp 3 miền Bắc Trung, Nam.
Xuất phát từ đội quân ô hợp, đui mù, dốt nát, thích cướp bóc, tiếm quyền hơn là ổn định lòng dân, vì vậy cho dù ao ước của bà con không có gì lớn. Một ngày 2 bữa ăn, một nơi trú ngụ ổn định và một công việc thông thường mà đảng cố tình làm ngơ, coi bà con ta như khúc ruột thừa câm nín, tìm mọi cách để cắt khỏi cơ thể dân tộc, vừa làm ngơ, vừa sai công an đàn áp hết lần này lần khác. Vì vậy, chỉ cần bà con đứng thẳng người, đoàn kết bên nhau , một mặt đấu tranh chống lại giặc đỏ, một mặt kêu gọi sự trợ lực của bà con Hải Ngoại, những người luôn hướng tới quê hương với một sự cảm thông sâu sắc nhất - những người yêu quê hương đất nước qua từng việc làm cụ thể, trong đó, có một việc vô cùng tâm đức là gửi tiền tài trợ cho bà con trong những ngày đông tháng giá, những ngày thiếu đói, khó khăn, xa gia đình làng nước, đặc biệt là các dịp lễ tết truyền thống của dân tộc Việt Nam.


Thưa bà con!
Cùng các sáng lập viên.


Cũng bởi cảnh "mái non, con dại", lúng túng như gà mắc tóc, mà thời gian qua chúng ta gặp qúa nhiều hiểm hoạ, sơ xuất, song sơ xuất lớn nhất không thể bỏ qua được là việc để đồng tiền lêu lổng qúa đáng. Cụ thể, số tiền bà con Hải ngoại gửi về ngay trong tháng 12, sau khi thành lập hội là 700 USD mà đến tay bà con vẻn vẹn 260 USD. 440 USD còn lại rơi vào túi của ba kẻ nhận tiền là Dương đại Dương(240 USD) Lý thị Hà(100 USD) Nguyễn thị Huần(100 USD)...những kẻ ăn chặn vào túi tiền của bà con chắc chắn sẽ không có kết cục tốt đẹp gì. Tương lai của những kẻ này cũng giống hệt tương lai của đảng cộng sản trước xu hướng hội nhập toàn cầu - bị nguyền rủa, xua đuổi, cô lập và sớm muộn cũng sẽ bị cộng đồng loại trừ, sống trong bóng tối của tình người, đạo lý.
Để trấn chỉnh mọi việc, ngoài việc củng cố nội bộ, còn phải tăng cường đội ngũ cán bộ, đó là những tấm lòng của bạn bè trên khắp thế giới cũng như quốc nội, những con người hoàn toàn nghe theo tiếng gọi của đất nước quê hương, biết bà con khổ mà tình nguyện đứng ra góp sức. Vì vậy ngoài 6 thành viên cũ của ban sáng lập, hôm nay xin được đề bạt thêm hai thành viên mới đó là anh Nguyễn Đức Huân (Bỉ) và mục sư Nguyễn Công Chính (Việt Nam). Tận cùng của số thành viên này dự kiến sẽ là 12 người. Ở Việt Nam còn hai người đã được mọi người nhất trí đề cử và đã chấp nhận lời đề nghị của hội là luật sư Bùi Kim Thành và anh Trần Quốc Hiền. Hiện hai người này đang nằm trong trại giam của cộng sản cũng chỉ vì những hành động nghĩa hiệp của họ: Đứng ra bênh vực bà con dân oan trong địa bàn Sài Gòn. Các tổ chức nhân quyền trên thế giới đang làm tất cả để giúp họ, vạch mặt đảng cộng sản Việt Nam trong việc vô cớ bắt người, bất chấp các quy định, điều luật đã ký kết, công bố với thế giới .
Sống dưới mái nhà của Liên minh dân chủ Việt Nam, tự bản thân mỗi người phải trang bị cho mình những hiểu biết về tự do, dân chủ, quyền làm người, sự tương ái, tương thân. Để làm trong sạch đội ngũ dân oan( Dù số thành viên chưa nhiều, nhưng điều quan trọng là sự đoàn kết, vững mạnh, trong sáng, can đảm) thay mặt các sáng lập viên tôi chính thức tuyên bố gạt bỏ khỏi danh sách 4 kẻ cơ hội, trở cờ, phản bội sau.
1. Phạm thị Lộc: Chuyên cấu kết, kích động chia rẽ khối bà con dân oan tại vườn hoa. Làm đơn bán đứng TKTT cho cơ quan an ninh Việt nam lấy "13 đồng tiền vàng" ( mảnh đất 80 m2 Ngã 5 Kế, trị giá 400 triệu đồng Việt Nam) tháng 8-2006.
2- Đỗ thị minh Hằng( trưởng ban đại diện hội dân oan Việt Nam từ tháng 3 đến - tháng 7/2006) kẻ đã đang tâm ăn chặn tiền của bà con mỗi tháng từ 1.600.000 đến 2.200.000 VND, cùng một Computer trị giá 300 USD, 1 đài nhật (mới) giá 100 USD. Tổng số tiền thị ăn chặn của bà con trong suốt 5 tháng là 1.000 USD.
3. Hồ thị Bích Khương (Trưởng ban đại diện hội dân oan Việt Nam tháng 1 và tháng 2/2006), nhận tiền tài trợ lại nói dối là giữ lại mua điện thoại di động cho bà con để Hải Ngoại gọi về phỏng vấn, không chịu phát tiền cho bà con. Tổng cộng 2.000.000 VND
4. Lý thị Hà tức thích Đàm Thoa nhận 100 USD từ Đảng Thăng Tiến, không phát cho bà con, sẵn sàng cấu kết với công an và những kẻ xấu để làm hại bà con, phá nát phong trào.
Bốn kẻ này thực sự là những kẻ ăn cháo đái bát, qua cơn rên quên người cứu mình. Là minh chứng cho lời nhận định của tổ tiên : "Cứu vật vật trả ân, cứu nhân, nhân trả oán". Hiện cái án tâm linh đang chờ đợi chúng, sẵn sàng đè bẹp số phận cuộc đời chúng theo đúng lơì cổ nhân dạy: "Người trị kẻ ác, trời trị mưu gian".
• Cảnh cáo :
1. Bà Nguyễn thị Kỷ( Thái Bình) - Trưởng ban đại diện hội dân oan Việt Nam tháng 12-2005) về tội, nhận một điện thoại di động, 40 ký gạo, 1 chăn bông, 2 xô nhựa (mới) mà không thông báo cho bà con, nhằm giữ cho riêng mình.
2. Chị Nguyễn thị Huần (Vĩnh Phúc) lĩnh tiền tết âm lịch 2006, phát thiếu 1.500.000 VND đồng, đồng thời giữ 100 USD của chị Chi (Mỹ) từ 25-12-2006 không phát cho bà con.
3. Chị Vũ thị Bình (Hải Phòng) - phụ trách khối dân oan Miền Nam - vì tội vi phạm cam kết -bỏ nhiệm vụ, mà vẫn cố tình giữ điện thoại di động từ tháng 7-2006 (trị giá 1.650.000 VND), đến nay không trả lại cho bà con.
• Gạch tên:
1. Dương Đại Dương (Thái Bình) ra khỏi ban thư ký của hội, vì tội nhận 400 USD, chỉ phát cho bà con 160 USD, xé giấy xác nhận của ban đại diện để xoá dấu vết.
2. Nguyễn Khắc Toàn (Hà Nội) ra khỏi ban cố vấn, vì tội tung tiền của Hải Ngoại tài trợ cho những kẻ xấu như Hồ thị Bích Khương, Phạm thị Lộc để phá tan phong trào, mượn tên hai ả đàn bà là Hồ thị Bích Khương và Lý thị Hà để viết đơn vu khống, nhằm phá tan hội dân oan, nhằm chứng minh hội dân oan là hội ảo, cố tình tố cáo người đứng ra thành lập hội có tội với Đảng và "Bác Hồ kính yêu" để mượn tay công an Việt Nam đưa vào ngục tù , nhằm tiếm quyền lãnh đạo hội, như đã từng xảy ra với Anh Nguyễn Chính Kết, Đỗ Nam Hải, Lê Chí Quang, chỉ để thoả mãn tính đố kỵ, tị hiềm , đê tiện, bẩn thỉu của mình.
Để rộng đường dư luận, tránh sự hiểu lầm, tất cả số tiền ban tài chính nhận và phát cho bà con sẽ được công khai trong nội bộ của hội, như phát tiền cho bà con bị bắt tại 35 Ngô Quyền (sáng 17-1-2007), hỗ trợ cho các trường hợp đặc biệt khó khăn như hai mẹ con chị Nguyễn thị Nhom (Kiên Giang), chị Đỗ thị Luyện (Bắc Giang), Chị Đặng thị Thông (Thái Bình), trả tiền trách nhiệm hàng tháng cho nhóm người phụ trách khối bà con tại vườn hoa như chị Gấm, chị Dung ,chị Bé. Hỗ trợ tiền ăn trưa cho hai đoàn Vĩnh Phúc, Hoà Bình khi mọi người đi đấu tranh tại vườn hoa. v.v...
Để hoà nhập với phong trào đấu tranh dân chủ, công bằng cho Việt Nam, trách nhiệm của mỗi chúng ta ngoài việc yêu thương đùm bọc nhau theo đúng đạo lý truyền thống: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương.Càng trong hoạn nạn càng thương nhau nhiều", còn phải bảo vệ, giám sát bát nước tình nghĩa của hội do tấm lòng của bà con Hải Ngoại chuyển về, sao cho không bị sóng sánh ra ngoài( dù chỉ một giọt). Trước đó, vì đồng tiền "lêu lổng" mà chúng ta buộc phải dừng việc nhận tiền tài trợ lại giữa chừng. Sau hơn một tháng kiện toàn bộ máy tổ chức, việc nhận tiền mới bắt đầu trở lại. Hiện tại trong quỹ hội còn 300 USD của Bác Nguyễn Đôn (Mỹ) và 100 USD do chị Trâm Oanh (Đức) giữ hộ, cùng 400 UAD của nhóm "Lockheed" Úc. Ngay khi ban tài chính nhận được số tiền trên sẽ công khai để sử dụng vào các mục đích của hội như mua điện thoại di động, máy ảnh, phát tiền hỗ trợ cho các đối tượng bị bắt trong nhà tù cộng sản( do bà con lập) v.v
Việc phát tiền tàu xe cho bà con về quê ăn tết sẽ diễn ra vào đầu tuần cuối cùng của tháng 12 (âm lịch). Ngoài số tiền hảo tâm do bà con Hải Ngoại hỗ trợ, tất cả các sáng lập viên từ anh Nguyễn Hải(Mỹ) chị Trâm Oanh( Đức), Anh Lưu Ngọc Bang( Anh Quốc), anh Nguyễn Đức Huần(Bỉ), anh Nguyễn Thái Phụng (Pháp) sẽ có quà đặc biệt cho bà con. Hai sáng lập viên ở Việt Nam xin đảm nhiệm phần bánh chưng và giò lợn cho nhóm bà con ở lại trụ sở tiếp dân trung ương và cổng các nhà lãnh đạo Việt Nam ăn tết . Đề nghị bà con lập đầy đủ danh sách số người về quê và số người ở lại để ban điều hành và ban tài chính của hội cân đối lượng tiền và bánh chưng cho phù hợp, tránh sự sơ xuất và sự hiểu lầm không đáng có .
Trong khí thế đấu tranh không ngừng của phong trào dân chủ trong và ngoài nước, hy vọng bà con ta có một cái tết vui vẻ, ấm lòng hơn.
Hãy tin tưởng ở một ngày mai tươi sáng của Việt Nam .. Bọn độc tài sẽ phải nhận kết cục bi thảm như tên độc tài I Rắc Sadem Hudam, vì tội đã giết 114 người dân vô tội.
Sau đây là danh sách 463 bà con dân oan thuộc nông trường cờ đỏ( Kèm chữ ký)
DANH SÁCH CÁC HỘ NÔNG DÂN TẬP THỂ CÓ ĐẤT GỐC TẠI NÔNG TRƯỜNG CỜ ĐỎ
(Đồng đứng tên và kí tên khởi kiện và khiếu tố ban lãnh đạo UBND tỉnh
Cần Thơ cùng ban lãnh đạo quản lý nông trường Cờ Đỏ làm sai luật pháp).

1. Lê Ngọc Giầu (1948). Trú tại Thị trấn Cờ Đỏ, huyện Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
2. Cao Văn Tư (1943). Trú tại Đông Thuận, huyện Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
3. Cao Văn Năm (1946). Trú tại Đông Thuận huyện Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
4. Cao Hồng Cúc (1943). Trú tại Đông Thuận huyện Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
5. Cao Văn Thi (1920). Trú tại Thị trấn Cờ Đỏ, huyện Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
6. Lê Thị Ân (1927). Trú tại Vĩnh Trinh- Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
7. Trần Thị Anh (1926). Trú tại Đồng Thới, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
8. Bùi Văn Xuân (1932). Trú tại Thới Thuận ,Thốt Nốt , Cần Thơ. Mất 5 ha
9. Cao Văn Tình (1974). Trú tại Tân Lộc, huyện Thốt Nốt -Cần Thơ. Mất 19,4 ha
10. Đặng Thị Bé Tư (1952) Trú tại Thới Đồng , Ô Môn - Cần Thơ. Mất 3 ha
11.Cao Thị Sáu (1953). Trú tại Châu Thành, An Giang. Mất 5 ha
12. Nguyễn Văn Lợi (1956). Trú tại Thị trấn Cờ Đỏ-Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
13. Võ Văn Châu (1926). Trú tại Thị trấn Cờ Đỏ-Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
14. Nguyễn Thị Mỹ (1930). Trú tại Nông trường Cờ Đỏ-Thốt Nốt, CầnThơ.Mất 8,8 ha
15. Đỗ Ngọc Thơ (1956). Trú tại Thạnh An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
16.Trương Thị Bông (1938) Nông trường Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
17 Nguyễn Văn Hay (1937). Trú tại Thạnh An,Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7,5 ha
18 Nguyễn Văn Nhựt(1954). Trú tại Thạnh An,Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7,5ha
19. Nguyễn Thị Bảy (1941). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7,5 ha
20. Trần Văn Tâm (1931) Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7,5 ha
21. Bùi Văn Thi (1920). Trú tại Trung An, Thốt Nốt -Cần Thơ . Mất 8,6 ha
22 Trương Văn Đông (1963) Trú tại Nông trường Cờ Đỏ,Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10ha
23. Trần Văn Kinh (1931). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
24. Trần Văn Nếp (1963). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5 ha
25. Nguyễn Văn Sáu (1924). Trú tại thị trấn Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 9,4 ha
26. Huỳnh Văn Vĩnh (1930). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
27. Nguyễn Thị Thiết (1909). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5ha
28. Trương Văn Kế (1927). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
29. Lê Tấn Phát (1922). Trú tại Quới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
30. Mai Thị Quế (1934). Trú tại Thạnh Quới, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 1,8 ha
31. Nguyễn Thị Kim Anh (1938). Trú tại Thới Đông Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 152 ha
32. Trần Văn Năm (1935). Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất ? ha
33. Lê Văn Dư (1928). Trú tại Trung Nhứt,Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 50 ha
34. Nguyễn Thị Pháp (1934) Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 12,5ha
35.Nguyễn Thị Phương(1943) Trú tại ấp Quy Lân 5,Thạnh Quới, Cần Thơ. Mất 50 ha
36. Nguyễn Văn Hoà (1929) xã Hoà Bình Thạnh, Châu thành An Giang. Mất 5 ha
37. Nguyễn Văn Tám (1935) ấp An Lợi, Thạnh Phú, Thốt Nốt,Cần Thơ Mất 5 ha
38. Nguyễn Thị Tuyết Lan(1941).ấp Quy Lân 5, Thạnh Quới,Cần Thơ. Mất 5 ha
39. Nguyễn Thị Phương(1929) Trú tại ấp Quy Lân 5, Thạnh Quới,Cần Thơ. Mất 5 ha
40. Lương Văn Phương (1932). Trú tại ấp Quy Lân 5, Thạnh Quới, Cần Thơ. Mất 7 ha
41. Nguyễn Văn Hô (1946) Tổ 3, đội 3, Nông Trường Cờ Đỏ,Thốt Nốt,Mất 0,5ha
42. Ngô Văn Tùng (1966). Tổ 3, đội 3, Nông Trường Cờ Đỏ, Thốt Nốt Mất 50ha
43. Huỳnh Văn Vui (1940). Trú tại ấp Phúc Lập, xã Trung Nhứt, Cần Thơ. Mất 50 ha
44. Huỳnh Văn Phước(1925) Trú tại ấp Phúc Lập, xã Trung Nhứt, Cần Thơ. Mất 75 ha
45. Huỳnh Thị Hai (1931). ấp Phúc Lập, xã Trung Nhứt, Cần Thơ. Mất 50 ha
46. Nguyễn Thị Khâu (1954). Trú tại Thạnh Lộc, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5 ha
47. Nguyễn Thị Phận (1926). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
48. Nguyễn Thị Nhàn (1936). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5ha 49. Nguyễn Thị Ba (1921). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
50. Nguyễn Văn Kỉnh (1936). Trú tại ThớiTthuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10ha
51. Nguyễn Văn Ba (1938). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
52. Nguyễn Văn Sị (1917). Trú tại Định An, Lấp Vò, Đồng Tháp. Mất 5 ha
53. Nguyễn Văn Sáu (1921). Trú tại huyện Tân Hiệp, Kiên Giang. Mất 10 ha
54. Nguyễn Thị Linh (1938) Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
55. Lê Văn Năm (1928). Trú tại Trung Anh, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
56. Trần Văn Điền (1926). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
57. Nguyễn Văn Sơn (1963). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
58. Huỳnh Thị Phường(1950). Trú tại Thanh An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
59. Huỳnh Văn Mười (1958). Trú tại Thanh An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 4ha
60. Nguyễn Thị Trường An(1969).Trú tại Thanh An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
61. Nguyễn Văn Cát (1950). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
62. Nguyễn Thị Trẻo (1958). Trú tại Nt Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 3 ha
63. Hồ Văn Pháp ( 197? ). Trú tại Tân Lộc,Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7,5 ha
64. Trần Văn Giàu (1959). Trú tại Nt Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7,5 ha
65. Võ Thị Phấn (1945). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5 ha
66. Võ Thị Đỏ (1939). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 3 ha
67. Võ Văn Nghinh (1951). Trú tại An Phong, huyện Thanh Bình. Mất 2 ha
68. Võ Thị Mận (1947). Trú tại An Phong, huyện Thanh Bình. Mất 2,5 ha
69. Trần Văn Hiếu (1955). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5 ha
70. Nguyễn Văn Ái (1945). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 3 ha
71. Nguyễn Phú Hồng (1931). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 3 ha
72. Võ Văn Mến (1954). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5 ha
73. Lê Văn Lắm (1953). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5 ha
74. Trần Đức Phong (1947). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5 ha
75. Trần Thanh Kiếm (1949). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2,5 ha
76. Trần Hữu Lộc (1959). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 3 ha
77. Thái Văn Tô (1947). Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
78. Thái Thị Tươi (1943). Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
79. Thái Văn Đủ (1941). Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
80. Võ Thị Tánh (1935). Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
81. Nguyễn Thị Bảy (1934). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7,5 ha
82. Trần Vân Thác (1932). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
83. Đặng Văn Quang (1935) Nông trường Cờ Đỏ, Thốt Nốt,Cần Thơ.Mất 15 ha
84. Trần Thị Dôi (1943)Trú tại Nông trường Cờ Đỏ,Thốt Nốt, Cần Thơ.Mất 5ha
85. Nguyễn Văn Thanh (1941) Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
86. Trương Ngọc Châu (1943)Trú tại Nông trường Cờ Đỏ, Thốt Nốt,CầnThơ.Mất 5ha
87. Nguyễn Văn Hoàng (1937). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
88. Nguyễn Thị Giác (1935). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
89. Võ Thị Cảnh (1951). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
90. Lữ Văn Lý (1952). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
91. Võ Văn Lý (1945). Trú tại An Phong, huyện Thanh Bình.Cần Thơ.Mất 4 ha
92. Thạch Ba (1951). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 4 ha
93. Thạch Uôl (1926). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
94. Thạch Nghĩa (1967). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
95. Dương Sang (1951). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
96. Trần Thanh Tùng (1954). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
97. Võ Thị Em (1952). Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
98. Trần Hữu Thanh (1951). Trú tại Thới Đông, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
99. Dương Thị Trưng (1941). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
100. Dương Văn Màng(1953)Mỹ Thạnh, thị xã Long Xuyên, An Giang.Mất 5 ha
101. Lê Thị Rẽ (1951) Trú tại Mỹ Thạnh, tx Long Xuyên, An Giang. Mất 10 ha
102. Võ Văn Bùi (1951) Mỹ Thạnh, thị xã Long Xuyên,An Giang. Mất10 ha
103. Nguyễn Văn Hùng(1947). Trú tại Mỹ Thạnh, tx Long Xuyên, An Giang. Mất 5ha
104. Trần Văn Phú (1949). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
105. Mai Văn Tấn (1952). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
106. Dương Thị Chọn (1931). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
107. Trịnh Thị Thiều (1911). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
108. Dương Thị Mau (1904). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
109. Lê Thị Liên (1942). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
110. Trình Hữu Truyền (1934). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
111. Phan Văn Tuồng (1931). Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
112. Phan Thị Lanh (1946). Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7,5 ha
113. Nguyễn Văn Hộm (1916). Trú tại Tân Lộc, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
114. Lê Văn Minh (1915). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
115. Lê Văn Ấn ( 1948). Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
116. Lê Thị Nhẹ (1957) . Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
117. Nguyễn Văn Tài (1934). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
118. Nguyễn Thị Tâm (1943). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
119. Huỳnh Thị Huệ (1955). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
120. Nguyễn Ngọc Hoa (1964). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
121. Huỳnh Thị Thời (1956). Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
122. Huỳnh Thị Đào (1947). Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
123. Tô Thị Nhã (1955). Trú tại thị trấn Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
124. Nguyễn Văn Chắc (1956). Trú tại Thới Đông, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
125. Trần Văn Quyết (1946). Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
126. Tô Văn Mỏng (1955). Trú tại thị trấn Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 4 ha
127. Nguyễn Hoàng Tuấn (1924). Trú tại Trường Lạc, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
128. Nguyễn Văn Cẩm (1940). Trú tại Định Hoà, Lai Vung, Đồng Tháp. Mất 10 ha
129. Nguyễn Văn Tài (1931). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
130. Trần Thị Vân (1955). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
131. Trần Thị Thạnh (1944). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
132. Lê Ngọc Hưng (1941). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
133. Dương Thị Nhan (1941). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 6,6 ha
134. Trần Văn Hầu (1937). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
135. Nguyễn văn Sương (1919). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt. Cần Thơ. Mất 5 ha
135. Lê Thị Nhỏ (1937). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
137. Nguyễn Văn Phương (1950). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất10 ha
138. Lê Minh Công (1952). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
139. Lê Văn Lợi (1949). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
140. Tổ Cẩm Hồng (1947). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
141. Lê Thị Châu (1935). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
142. Phạm Thị Anh (1937). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 3 ha
143. Nguyễn Thị Anh(1954). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ.Mất 5 ha
144. Lê Văn Rẻn (1951). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
145. Nguyễn Thị Nở (1952). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
146. Nguyễn Văn Út (1940). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
147. Cao Thị Bé (1938). Trú tại Nt Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
148. Nguyễn Văn Khuê(1927). Trú tại thị trấn Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7 ha
149. Phạm Văn Tứ (1939). Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
150. Lê Thị Tỏ (1943). Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 7 ha
151. Võ Văn Đương (1945). Trú tại thị xã Long Xuyên, An Giang. Mất 5 ha
152. Lê Thị Kim Cúc (1941). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
153. Trần Kim Cúc (1951). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
154. Võ Văn Sen (1955). Trú tại Thới Đông, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
155. Lâm Văn Kế (1950). Trú tại thị trấn, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
156. Võ Thị Cẩm (1952). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
157. Nguyễn Thị Huệ (1947). Trú tại Đồng Thuận, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
158. Đồng Văn Như (1937). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
159. Lâm Văn Kế (1934). Trú tại thị trấn, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
160. Nguyễn Văn Tĩnh(1929). Trú tại Thạch Lộc, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 2 ha
161. Nguyễn thị Lê 1929 Trú tại Thạch Lộc,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 3 ha
162. Huỳnh văn Đo 1951 Trú tại Thạch An, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
163. Lê văn Nghiệp 1941 Trú tại Trung An,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
164. Lê Phú Xuân 1916 Trú tại Trung An,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
165. Hoàng Đại Việt 1923 Trú tại Thạch Đông B, Tân Hiệp, Kiên Giang Mất 20ha
166. Hoàng Kim Thoa 1954 Trú tại Thạch Đông B, Tân Hiệp, Kiên Giang Mất 20ha
167. Hoàng thị Thiết 1905 Trú tại Thạch Đông B, Tân Hiệp, Kiên Giang Mất 30 ha
168. Hoàng thị Lệ 1915 Trú tại Thạch Đông B, Tân Hiệp, Kiên Giang Mất 30 ha
169. Hoàng thị Dậu 1937 Trú tại Thạch Đông B, Tân Hiệp, Kiên Giang Mất 2,5 ha
170. Hoàng thị Giám 1929 Trú tại Thạch Đông B, Tân Hiệp, Kiên GiangMất 2,5 ha
171. Nguyễn Hoàng Tuấn 1924 Trú tại Trường Lạc, Ô Môn, Cần Thơ Mất 10ha
172. Nguyễn Văn Góp 1962 Trú tại Định Hoá, Lai Vung, Đồng Tháp.Mất 5ha
173. Nguyễn Văn Tám 1950 Trú tại Trung An, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5ha
174. Lê Phước Hiệp 1949 Trú tại Trung An, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5ha
175. Trần Thị Hường 1953 Trú tại Trung An, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 7ha
176. Huỳnh Văn Hiển 1919 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10ha
177. Nguyễn Văn Thanh1929 Trú tại Nt Cờ Đỏ, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
178. Nguyễn Văn Phương 1950 Trú tại thị trấn Cờ ĐỏThốt Nốt- Cần Thơ Mất 10ha
179. Nguyễn thị Nguyệt 1961. Trú tại thị trấn Cờ Đỏ,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
180. Phan Văn Tường 1939. Trú tại Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
181. Trần thị Hường 1941 Trú tại Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
182. Mai Văn Trọng 1945 Trú tại Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 5ha
183. La Công Minh 1951 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 7ha
184. Đào Đình Phong 1947 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
185. Trần Hữu Phước 1952 Trú tại thị trấn, Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
186. Lào thị Mẹt 1954 Trú tại thị trấn, Ô Môn, Cần Thơ Mất 9,5 ha
187. Trần thị Tươi 1952 Trú tại Thi Thuận,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 7 ha
188. Trần Văn Châu 1943 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
189. Trần thị Dồi 1941 Trú tại Nông Trường Cờ Đỏ, Thốt Nốt-Cần Thơ. Mất 5 ha
190. Dương Minh Đức 1952 Trú tại Nông Trường Cờ Đỏ Thốt Nốt- Cần Thơ Mất10ha
191. Dương Nhật Bình 1947 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 10ha
192. Nguyễn Thị Bé Tư 1950 Trú tại Nt Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
193. Trần Văn Vạn 1937 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 5ha
194. Nguyễn Phúc Sang 1953 Trú tại Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 5h
195. Ng. Thị Nga Hoàng1952 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 20ha
196. Trần thị Tư 1940 Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 2.5 ha
197. Lê thi Nương 1965 Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
198. Trương Văn Lực 1965 Trú tại Trung Hưng,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
199. Nguyễn văn Thiếu 1940 Trú tại Đinh An, Lấp Vỏ, Đồng Tháp Mất 5 ha
200. Lưu Thanh Cường 1967 Trú tại Đinh An, Lấp Vỏ, Đồng ThápMất 5 ha
201. Lưu Thanh Ngươn 1953 Trú tại Đinh An, Lấp Vỏ, Đồng Tháp Mất 5ha
202. Nguyễn văn Hoà 1930 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
203. Trần Thanh Tùng 1954 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
204. Trần thị Mùi 1921 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
205. Nguyễn Ngọc Diệp1928 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
206. Trịnh thị Kiểu 1932 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
207. Đặng Văn Nắng 1929 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 6,3ha
208. Nguyễn Văn Nuôi 1934 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 8ha
209. Hồ thị Đến 1930 Trú tại Hoà bình, chợ mới, an giang Mất 6,2ha
210. Nguyễn Kim Ánh 1947 Trú tại Trung An, Thốt Nốt- Cần Thơ 5ha
211. Trần Văn Em 1930 Trú tại Thạnh PhúThốt Nốt- Cần Thơ Mất 5ha
212. Trần Văn Hùng 1930 Trú tại Mỹ Thạnh, châu thành, an giang Mất 10 ha
213. Phan Văn Nhật 1937 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5ha
214. Nguyễn Văn Nam 1945 Trú tại Mỹ thới, Long Xuyên, An Giang Mất 10 ha
215. Lê thị Châu 1930 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
216. Nguyễn thị Lời 1929 Trú tại Thạnh Pphú Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5ha
217. Nguyễn Văn Tại 1926 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
218. Nguyễn thị Thâm 1925 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 20 ha
219. Phan quốc Tuấn 1908 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
220. Trần thị Năm 1923 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
221. Lê Minh Tâm 1911 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
222. Nguyễn thị Lựu 1921 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
223. Huỳnh Văn Hiểu 1929 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 10 ha
224. Nguyễn thị Ta 1928 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5ha
225. Nguyễn Văn Đúng 1932 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
226. Phạm Văn Sinh 1914 Trú tại Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
227. Phan Văn Đắc 1926 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
228. Lê Văn Liệt 1934 Trú tại thị trấn Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
229. Lê Văn Đủ 1928 Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
230. Lê Văn Nhật 1928 Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
231. Nguyễn Văn Giao 1919 Trú tại Trung An, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
232. Ngô thị Tư 1937 Trú tại Thanh Đông, Tân Hiệp, Kiên Giang Mất 5 ha
233. Lê thị Xanh 1936 Trú tại Phường Xuân Khánh - 3/2 Cần Thơ Mất 10 ha
234. Lê thị Anh 19?? Trú tại Phường Xuân Khánh - 3/2 Cần Thơ Mất ? ha 235. Trần Văn Có 19.. Trú tại Thới thuận, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
236. Trương thị Xuân 1931 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
237 Nguyễn Văn Quyền 1961 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 10 ha
238. Nguyễn Văn Hoàng1929 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
239. Nguyễn Văn Chín 1923 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 6 ha
240. Phạm thị Xia 1960 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 1,2 ha
241.Nguyễn Thành Long1924 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 4,6 ha
242. Dương thị Âu 1921 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5,3 ha
243. Lưu thị Tuyết Vân 1968 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 2,5 ha
244. Lưu thị Tuyết Lan 1962 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ Mất 2,5 ha
245. Nguyễn Văn Chọn 1950 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 2 ha
246. Nguyễn Văn Lợi 1952 Trú tại Phú Hữu, Châu Thành, Cần Thơ Mất 5 ha
247. Nguyễn Văn Sang 1949 Trú tại Đông Thuận, Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
248. Lữ văn Tài 1927 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
249. Nguyễn Văn Còn 1918 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
250. Thạch Nót 1906 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
251. Danh thị Liên 1936 Trú tại Thới ĐôngÔ Môn, Cần Thơ Mất 4,5 ha
252.Vỗ thị Tư 1930 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
253. Thạch Thức 1916 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
254. Bùi Ngọc Ẩn 1917 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
255. Nguyễn Thị Huê 1954 Trú tại Đông Thuận, Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
256. Lê văn Trạch 1920 Trú tại Trung Nhứt,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
257. Nguyễn Văn Bo 1917 Trú tại Nt Cờ Đỏ Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
258. Trần văn Huấn 1914 Trú tại Vĩnh Trinh Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
259. Ngô văn Thâu 1931 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
260. Phạm văn Đợi 1933 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
261. Nguyễn thị Sáng 1933 Trú tại Thạnh Phú Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
262. Kim Hum 1934 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
263. Lê Hoàng Minh 1912 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
264. Lê Văn Kiển 1931 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 4 ha
265. Nguyễn Thị Năng1912 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 3 ha
266. Phùng thị Sáng 1937 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 4 ha
267. Trần thị Cang 1947 Trú tại Thạnh Phú Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
268. Huỳnh Văn Đạt 1949 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 10 ha
269. Dương thị Năm 1948 Trú tại Vĩnh Thới, Lai Vinh, Đồng Tháp Mất 5 ha
270. Lê Văn Y 1950 Trú tại Thạch quớiThốt Nốt- Cần Thơ Mất 2,5 ha
271. Phan văn Be 1945 Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 3 ha
272. Võ Văn Á 1937 Trú tại Thạch Quới,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
273. Lâm Văn Hiến 1945 Trú tại Thới Đông Ô Môn, Cần Thơ Mất 7,5 ha
274. Thái thị Hoa 1941 Trú tại Trung Hưng, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 2 ha
275. Nguyễn Văn Be 1945 Trú tại Trung An, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 2,5
276. Võ văn Dỏm 1942 Trú tại Trung An,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
277. Nguyễn Văn Tiến 1935 Trú tại Thạnh Đông b, tân hiệp, kiên giang Mất 4 ha
278. Ngô Văn Hai 1941 Trú tại Thạch Quới,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
279. Trần thị Di 1947 Trú tại Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5ha
280. Nguyễn thị Lê 1935 Trú tại Thạnh Lộc, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5ha
281. Nguyễn Văn Tám1942 Trú tại Thạnh Lộc, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 2ha
282. Phạm Văn Tư 1941 ấp Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 10ha
283. Phạm thị Điệp 1940 ấp An Lợi, Thạnh Phú, Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 7,5ha
284. Bùi Văn Phong 1933 ấp Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 5 ha
285. Nguyễn thị Bảy 1930 ại ấp Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 5 ha
296. Nguyễn Văn Năm 1945 ấp An Lợi, Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 5 ha
287. Võ thị Tho 1955 ấp An Lợi,Thạnh Phú Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 2,5ha
288. Nguyễn Thị Chăm1945 ấp An Lợi, Thạnh Phú,Thốt Nốt- Cần Thơ Mất 2,5ha
289. Nguyễn Văn Phanh 951Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã An Giang Mất 7,5ha
290. Nguyễn thị Hoà 1949 Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 3 ha
291. Nguyễn văn Thâm 1937Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 5 ha
292 Võ thị Liên 1945 Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã An Giang Mất 2 ha
293. Bùi thị Sét 1973Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã An Giang Mất 2,5 ha
294. Trần thị Canh 1955Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã An Giang Mất 2 ha
295. Nguyễn thị Mạnh 1949 Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 3 ha
296. Phan thị Nữ 1935 Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mât 2,5 ha
297. Phan thị Có 1955 Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 2 ha
298. Phan văn Chức 1955 Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 5 ha
299. Lê Đức Phát 1932 Trú tại Tây Khánh B, Mỹ Hoà, thị xã ,An Giang Mất 5 ha
Trần văn Sai 1939 Trú tại Mỹ Hoà, An Giang. Mất 5 ha
301. Nguyễn Thị Pháp (1940). Trú tại Mỹ Hoà, An Giang. Mất 5 ha
302. Nguyễn Văn Hoá (1939). Trú tại Mỹ Hoà, An Giang. Mất 5 ha
303. Võ Văn Khái (1955).ấp An Thị, An Trung, Chợ Mới, An Giang. Mất 10 ha
304. Lê Đức Phát (1947). Trú tại Chợ Mới, An Giang. Mất 5 ha
305. Nguyễn Thị Sanh (1945). Trú tại Chợ Mới, An Giang. Mất 10 ha
306. Nguyễn Thị Sáu (1951). Trú tại Mỹ Hoà, An Giang. Mất 10 ha
307. Trương Văn Kế (1950). Trú tại Mỹ Hoà, An Giang. Mất 7 ha
308. Trần Thị Nhanh (1950). Trú tại Mỹ Hoà, An Giang. Mất 7,8 ha
309. Trần Văn Sai (1947). Trú tại Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
310. Trần Văn Bảy (1945). Trú tại Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
311. Nguyễn Văn Điều (1951). Trú tại Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
312. Nguyễn Văn Du (1953). Trú tại Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
313. Nguyễn Văn Chung(1951). Trú tại Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
314. Lê Thị Hường (1949). Trú tại Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
315. Nguyễn Văn Năm (1939). Trú tại ấp Thới Đông Bình I, Thới Đông. Mất 5 ha
316. Lê Văn Hai (1907). ấp Thạnh Hưng, Trung Hưng, Thốt Nốt.Mất 5 ha
317. Bùi Văn Sanh (1935). Thới Hoà 1, Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
318. Bùi Lỗ Nghi (1939). Thới Hoà 2, Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
319. Bùi Thị Hà (1937). Thới Hoà 1, Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
320. Phương Thị Hi (1939). Thới Hoà 1, Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ.Mất 9,5 ha
321. Lâm Văn Biên (1947). Thới Trưng, Thới Đông, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 9,5ha
322. Thạnh Bun (1950). Thới Trưng, Thới Đông, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 100ha
323. Nguyễn Văn Độ (1951) ấp Lân Quới 2, Thạch Quới, Thốt Nốt, CT. Mất 100ha
324. Nguyễn Văn Cảnh (1955). Thới Trưng, Thới Đông, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 100ha
325. Huỳnh Văn Ngân (1947). ấp Lân Quới 2, Thạch Quới, Thốt Nốt, CT.Mất 100ha
326. Lê Văn Liệt (1930). Trú tại ấp Thạnh Hưng, Thốt Nốt, Cà Mau. Mất 10ha
327. Dương Thị Chương (1923). Trú tại thị trấn Ô Môn, huyện Ô Môn. Mất 10 ha
328. Lê Thị Sanh (1937). Trú tại đường 3/2 thành phố Cần thơ. Mất 10 ha
329. Lê Thị Anh (1941). Trú tại ấp Thành Nghĩa, xã Thành Lợi, Vĩnh Long.Mất?ha
330. Lê văn Bang (1937). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
331.Ng. Sông Hương (1941). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
332. Hà Văn Nên (1952). Trú tại Thới Hoà, Thới Đông, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5ha
333. Nguyễn Thị Kiều(1945) Trú tại Thới Hoà, Thới Đông, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5ha
334. Nguyễn Thị Tư (1937) Trú tại ấp Phụng Thạnh 2, Trung Kiên,Cần Thơ. Mất 5ha
335. Trịnh Thị Dân (1943). Trú taị ấp Vĩnh Nhuận , Thới Thuận,Cần Thơ. Mất 5 ha
336. Nguyễn Thi Phượng (1942). Trú tại ấp Quy Lân 5, Thạch Quới, Cần Thơ.Mất 5ha
337. Võ Văn Lý (1951) xã An Phong, huyện Thành Bình, Đồng Tháp.Mất 5 ha
338. Trần Văn Vang (1950). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
339. Trần Văn Phú (1951). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
340. Lưu Văn Nối (1947). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
341. Dương Thị Năm (1943). Trú tại Vĩnh Thới, Lấp Vò, Đồng Tháp. Mất 5 ha
342. Nguyễn Thị Nản (1937). Trú tại đội 6 nông trường Cờ Đỏ. Mất 3 ha
343. Trần Thị Thạnh (1945). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
344. Nguyễn Thị Đẹp (1945). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
345. Nguyễn Thị Hương(1938). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
346. Nguyễn Thanh Hùng(1951). Trú tạithị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
347. Võ Văn Đương (1949). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
348. Lê Thị Lương (1950). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
349. Nguyễn Thị Tư (1952). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
350. Thái Văn Đời (1950). Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
351. Nguyễn Văn Hoành (1955). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
352. Lê Văn Nam (1951). Trú tại Mỹ Thới, Châu Thành , An Giang. Mất 4 ha
353. Nguyễn Văn Vân (1945). Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
354. Trình Hữu Truyền (1955). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
355. Lê Thị Yêu (1951). Trú tại Trung Kiên, Thốt Nốt, Cần thơ. Mất 5 ha
356. Phạm Văn Tuồng (1945). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Thốt Nốt. Mất 7,5 ha
357. Nguyễn Văn Hơm (1939). Trú tại Tân Lộc Tây, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
358. Huỳnh Văn Hiếu (1941). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Cần Thơ. Mất 10 ha
359. Huỳnh Văn Hà (1935). Trú tại Mỹ Thới, Châu Thành, An Giang. Mất 10 ha
360. Phạm Thị Diệp (1937). Trú tại Trại giống nt Cờ Đỏ, Cần Thơ. Mất 3 ha
361. Cao Văn Tỉnh (1950). Trú tại Tân Lộc Tây, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 9,4 ha
362. Nguyễn Thị Xuyễn ( 1951). Trú tại đội 5 nt Cờ Đỏ, Cần Thơ. Mất 10 ha
363. Hà Văn Hiên (1950). Trú tại đội 5 nt Cờ Đỏ Cần Thơ. Mất 3 ha
364 Phạm Thị Anh (1943). Trú tại thị trấn Tri Tôn, An Giang. Mất 3 ha
365.Nguyễn Văn Thử 1945 Trú tại Trung An, Thốt Nốt mất 5,0 ha 366. Huỳnh Thị Thời (1947). Trú tại Trung Nhất, Thốt Nốt. Mất 5 ha
367. Huỳnh Thị Đào (1941). Trú tại Trung Nhất, Thốt Nốt. Mất 5 ha
368. Trương Văn Nung (1951). Trú tại Đồng Tháp (mua chưa sang tên) Mất 2 ha
369. Huỳnh Văn Thuấn (1950). Trú tại Đồng Tháp. Mất 3 ha
370. Võ Văn Sữa (1943). Trú tại Đồng Tháp. Mất 5 ha
371. Nguyễn Thị Tâm (1951). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 10 ha
372. Đồng Quan Như (1941). Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất 5 ha
373. Đồng Thị Huệ (1950)Trú tại Nông trường Cờ Đỏ, Ô Môn, Cần Thơ. Mất10ha
374. Nguyễn Thị Phận (1952). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
375. Nguyễn Thị Ba (1951). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 10 ha
376. Nguyễn Văn Kỉnh (1960). Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 3 ha
377. Lương Thị Tích (1951). Trú tại Bờ Bao, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 3 ha
378. Trương Thị Bông (1949). Trú tại Nông trường Cờ Đỏ, Cần Thơ. Mất 5 ha
379. Lê Văn Nhân (1955). Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5 ha
380. Nguyễn Văn Sáu (1947). Trú tại Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 9 ha
381. Trương văn Đông 1975 Trú tại Nông trường Cờ Đỏ, Cần Thơ Mất 10 ha
382. Nguyễn văn Tri 1951 Trú tại Thạnh phú, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5ha
383. Nguyễn thị Hai 1945 Trú tại Thới thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ, Mất 5 ha
384. Nguyễn văn Nam 1943 Trú tại Mỹ Thới, An Giang Mất 10 ha
385. Nguyễn thị Diễm 1939 Trú tại Thới Bình, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 10ha
386. Nguyễn văn Trung 1955 Trú tại Thới Bình, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5ha
387. Ngô thị Điệp 1951 Trú tại Thạnh phú, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 7ha
388. Nguyễn Văn Mẫn 1952 Trú tại Thới Bình, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5ha
389. Dương thị Mãnh 1951 Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
390. Nguyễn thị Tiềm 1950 Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 3 Ha
391. Lê Tấn Phát 1947 Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 2,5 ha
392. Sanh 1951 Trú tại Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ Mất 3 ha
393. Bùi văn Long 1947 Trú tại Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ Mất 8 ha
394. Bùi lễ Nghi 1952 Trú tại Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ Mất 8 ha
395. Bùi thị Hà 1954 Trú tại Thới Long, Ô Môn, Cần Thơ Mất 5 ha
396. Phan văn Phanh 1949 Trú tại Thành phố Long Xuyên Mất 7,5 ha
397. Bùi văn Nhong 1947 Trú tại Thành phố Long Xuyên Mất 7,5 ha
398. Huỳnh thị Bảy 1937 Trú tại Thành phố Long Xuyên Mất 3 ha
399. Nguyễn thị Lùng 1952 Trú tại Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
400. Lê thị Hoa 1954 Trú tại Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
401. Đặng Văn Quang 1951 Trú tại Lấp Vò, Đồng Tháp Mất 6 ha
402. Nguyễn Văn Lớn 1955 Trú tại Nông trường Cờ Đỏ Mất 7 ha
403. Nguyễn Văn Sơn 1943 Trú tại Nông trường cờ đỏ Mất 5 ha
404. Trần Văn Kỉnh 1945 Trú tại Nông trường Cờ Đỏ Mất 10 ha
405. Tô Văn Mỏng 1930 Trú tại Nông trường Cờ Đỏ Mất 7 ha
406. Võ Thanh Hồng 1928 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 3 ha
407. Trần thị Bảy 1940 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
408. Võ thị Hiền 1968 Trú tại Thạnh Phú, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 3ha
409. Nguyễn Thị Tất 1908 Trú tại Thuần Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 3ha
410. Nguyễn Văn Tạo 1931 Trú tại Thới Thuận,Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5ha
411. Ng, thị Hồng Hoa 1945 Trú tại Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 10ha
412. Phạm Quốc Tuấn 1950 Trú tại Nông trường Cờ Đỏ, Cần Thơ Mất 5ha
413. Cao Văn Tư 1947 Trú tại Nông trường Cờ Đỏ, Cần Thơ Mất 5 ha
414. Phạm Thị Anh 1933 Trú tại thị trấn Tri Tôn, An Giang Mất 5 ha
415. Trần văn Hầu 1937 Trú tại Thạnh Phú, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 5 ha
416. Nguyễn Văn Khanh 1933 Trú tại Trung nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 10ha
417. Nguyễn Văn Tám 1930 Trú tại Thạnh Phú,Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 5ha
418. Huỳnh Thị Mai 1944 Trú tại Thạnh phú, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 5ha
419. Dương Thị Năm 1922 Trú tại Thạnh Phú, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 8 ha
420. Lê Thị Bé Sáu 1970 Trú tại Thạnh Phú, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 4 ha
421. Ngô Thị Lượng 1943 Trú tại Vĩnh Thới, Lai Vung, Đồng Tháp Mất 8ha
422. Võ Văn Sữa 1951 Trú tại Nông trường Cờ Đỏ, đội 6, Cần Thơ Mất 5ha
423. Nguyễn Văn Được 1943 Trú tại Vĩnh Thới, Lai Vung, Đồng Tháp Mất 5 ha
424. Nguyễn Văn Văn 1920 Trú tại Thạnh Phú, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 5 ha
425. Trần văn Lợi 1942 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
426. Trần văn Quét 1469 Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
427. Nguyễn Văn Tiến 1945 Trú tại Thạnh Phú, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 9 ha
428. Phạm Văn Tư 1940 Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
429. Lê thị Nhỏ 1935 Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 2,5 ha
430. Nguyễn Văn Muôn 1950 Trú tại Thạnh Đông B, Tân Hiệp Kiên Giang Mất2,5 ha
431. Trần văn Ngon 1970 Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 10ha
432. Tô thị Nhã 1954 Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 7ha
433. Nguyễn Thị Tâm1943 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Cần Thơ Mất 5 ha
434. Trần Thị Vân 1931 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, Cần Thơ Mất 5 ha
435. Nguyễn Thị Xuyến 1963 Trú tại đội 5, Nông Trường Cờ Đỏ Mất 10 ha
436. Nguyễn Văn Sáu 1924 ấp Tây Khánh 5,Mỹ Hoà thành phố Long Xuyên Mất9,4ha
437. Nguyễn Thị Bảy1928 ấp Tây Khánh 5,Mỹ Hoà thành phố Long Xuyên.Mất 9,4ha
438. Nguyễn thị Anh 1940 ấp Tây Khánh 5,Mỹ Hoà thành phố Long Xuyên Mất7,5ha
439. Bạch thị Tư 1948 Trú tại Trung kiên, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 5 ha
440. Đặng thị Nhiệm 1941 Trú tại Sóc Sơn, Tri Tôn, An Giang Mất 10ha
441. Phạm văn Đông 1948 Trú tại Tổ 3 đội 7 kinh 2,Nông Trường Cờ Đỏ Mất 5 ha
442. Nguyễn thị Đẹp 1950 Trú tại Xã Long Giang, Chợ Mới, An Giang Mất 10 ha
443. Võ văn Thắng 1947 Trú tại Xã Hoà Bình, Chợ Mới, An Giang Mất 3 ha
444. Võ văn Liệp 195 Trú tại Xã Long Giang, Chợ Mới, An Giang Mất 3ha
445. Võ văn Mẫn 1942 Trú tại Xã Long Giang, Chợ Mới, An Giang Mất 3ha
446. Lê thị Vẻ 1931 Trú tại Xã đông thạnh A, mỹ thạnh, An Giang Mất 2ha
447. Trần Văn Minh 1956 Trú tại Thạnh Phú, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 2 ha
448. Nguyễn Văn Bàn 1947 Trú tại Thạnh Phú,Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 2,5 ha
449. Phan thị Minh Châu 1948 Trú tại Thạnh Quới, Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 1,5ha
450. Phan thị Thu Nga 1953 Trú tại Thạnh Phú,Vĩnh Thạnh, Cần Thơ Mất 1 ha
451. Nguyễn văn Chợ 1927 Trú tại Long Kiến, Chợ Mới,An Giang Mất 4 ha 452. Nguyễn thị Ngư 1924 Trú tại Long Kiến, Chợ Mới, An Giang Mất 3 ha
453. Nguyễn Kim Như 1970 Trú tại Trung Nhất, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 10 ha
454. Nguyễn Thị Ba 1934 Trú tại Trung An. Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
455. Phạm thị Ba 1949 Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
456. Phạm thị Đào 1948 Trú tại Trung Nhất, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 5 ha
457. Phạm Văn Tạ 1926 Trú tại Thạnh Quới, Thốt Nốt, Cần Thơ Mất 2,5 ha
458. Đinh Hoàng Phi1979 Trú tại thị trấn cờ đỏ, Cần Thơ Mất 3,7
459. Nguyễn Thị Dư 1935 Trú tại Thạnh Đông, Tân Hiệp, Kiên Giang Mất 5 ha
460. Lê Văn Quốc 1953 Trú tại Nông trường Cờ Đỏ, Cần Thơ Mất 10 ha
461. Huỳnh Phú Đầy 1969 Trú tại thị trấn Cờ Đỏ, nông trường Cần Thơ Mất 10 ha
462. Nguyễn văn Khuê 1927 Trú tại Trung Nhứt, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất 5ha
463. Trần thị Mai 1915 Trú tại Trung An, Thốt Nốt, Cần Thơ. Mất ? ha
----------------------

Ghi chú : Từ danh sách 46 đến 55, phần đất thuộc về UBND xã Thạnh Qưới quản lý ,
còn lại đều do nông trường Cờ Đỏ quản lý đất, mà không chịu trả lại cho dân, kể từ
thời điểm 1980 khi thành lập tập đoàn ma để cướp không đất của xã viên.
(Còn tiếp)
Hà Nội 3-2-2007
Thay mặt các sáng lập viên của hội Dân Oan Việt Nam
Trần Khải Thanh Thuỷ
Mọi ý kiến đóng góp cũng như ủng hộ

31 January 2007

Thư giãn cuối tuần...Trần Khải Thanh Thuỷ

Trần Khải Thanh Thuỷ
20 tuổi, là sinh viên đại học sư phạm, tôi rất thích câu nói của Xulômlinxki- ông tổ của nền giáo dục Nga: "Ta sống giữa mọi người, niềm vui lớn nhất là niềm vui giao tiếp", vì thế khi tốt nghiệp ra trường, cầm phấn, rồi cầm bút, tôi đều tung mình vào các cuộc chơi với học trò, đồng nghiệp, độc giả, bạn viết v.v...hòng tìm được niềm vui lớn nhất cho cuộc đời mình, xoá đi 4 chữ "canh cô mậu qủa" oan nghiệt, định mệnh...40 tuổi, sau bao lần ngã ngựa, rơi từ đỉnh cao của ngôi đền tri thức xuống dòng sông đời đen ngòm, tôi buộc phải làm ngược lại tất cả những điều ông viết, ông nói, đơn giản vì càng tự xã hội hoá mình bao nhiêu càng bị thương tổn nặng nề bấy nhiêu. Nào là:"Văn học là của giáo viên văn, giáo viên dạy sinh không được quyền lấn sân người khác, đề nghị chị (đồng chí) hãy quay về với sân ăn của mình, không nên tái phạm". Nào : " Buông thả ngòi bút, lập trường tư tưởng non nớt, yếu kém, Đề nghị thận trọng khi nói, viết , làm và nghiêm khắc đấu tranh với bản thân".

Nào phụ nữ gì mà giọng điệu chớt nhả, quá đà, chả có chút nữ tính nào. Biết gì về Hồ Xuân Hương mà đòi viết, thật ngông cuồng và rồ dại. v.v và v.v(lăng nhăng và lăng nhăng)...và tôi hiểu, kể từ năm 1946, sau khi cướp chính quyền từ tay ...nhân dân, dòng máu đen tối, ác độc mà đảng cộng sản bơm vào cơ thể dân tộc luôn phát huy tác dụng, cứ cá lớn nuốt cá bé, người ngay sợ kẻ gian, kẻ dốt dìm thằng giỏi. Ngay cả ngôi đền thi ca mà tôi trú ngụ cũng đầy cỏ giả, rác rến, người tốt thì ít, kẻ cơ hội thì nhiều, hệt câu thơ Nguyễn Trải tả:"miệng thế nhọn như chông mác nhọn, lòng người quanh tựa nước non quanh"...Vì thế trong 36 cách chỉ còn cách...chuồn. Từ đó làm theo lời người Trung Quốc dạy:" Nhà đóng cửa thành hang sâu núi cao", một mình mình viết, một mình mình xem. Thà "khóc cười thủ thỉ, đếm thời gian trôi" trong chính cõi lòng mình còn hơn là tung mình vào những cuộc giải trí vô bổ, tội nghiệp, chỉ tổ bị người đời đố kỵ, dèm pha, cứ đùi em trắng hơn đùi chị là ...bỏ cha nhau rồi

Cuộc đời luôn có những nút thắt, bí ẩn, lối rẽ bất ngờ, khiến người ta phải tự điều chỉnh, thích nghi lại mình. Năm 46 tuổi, bị bao vây trong trùng trùng, điệp điệp đội ngũ công an - những kẻ chuyên trấn áp các nhà dân chủ, người bất đồng chính kiến, thích nói thẳng , nói thật như tôi...một mình nơi chốn cao vực sâu, lúc "hang đá"( căn nhà tôi ở tại Gia Lâm) lúc" đỉnh giời" (căn hộ tầng 3 tại chung cư của mẹ đẻ) không ngờ lại là nơi bình minh chim hót, trái tim luôn bình yên, nơi hàng trăm tiếng nói vọng vào từ phía bên kia bờ biển Thái Bình Dương. Những cuộc giao lưu qua điện thoại, qua trả lời phỏng vấn, qua mạng internet...đã khiến hồn tôi nở hoa, mọc cánh, tung bay khắp phương trời.Những câu hỏi thật ngộ nghĩnh, thân thương, khiến tôi phải nhìn nhận lại quan điểm của mình một lần nữa: "Ta sống giữa cộng đồng, niềm vui lớn nhất là niềm vui giao tiếp (trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau)


- Chị Thuỷ ơi, Nghe anh Ngô Kỷ , đài Quê Hương giới thiệu, chị tốt nghiệp đại học sư phạm khoa sinh cơ mà, sao lại viết văn vậy?
- À ...tôi nghĩ sao nói vậy: - Mình chỉ thích văn học thôi, chứ đâu có nghĩ thành nhà văn, chẳng qua cuộc đời qúa khổ, sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi chiến tranh, 3 lần thể nghiệm nỗi đau mất bố, mất anh, rồi cả em trai nữa, chỉ vì tham gia quân đội mà bỏ mạng. Thế là buồn bã lang thang, không ngờ lạc vào cánh rừng ngôn ngữ của Việt Nam, nơi 26 chú lùn từ A đến Z đang ngự trị. "Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén", được các chú an ủi, động viên, dỗ dành, chèo kéo, mình lần lượt "phải lòng" hết cả 26 chú, thế là phải chửa, phải đẻ, phải nạo, rồi đẻ ra cả nghìn chú lùn con con... xếp chật trong 15 ngôi nhà...bằng giấy( 15 đầu sách), rồi được kết nạp vào hội (năm 2000) và thành nhà văn, vậy thôi.
- Chị Thuỷ ơi, sao giọng viết của chị đầy nam tính vậy? Nếu không có ảnh của chị đi kèm, nếu chị cứ để tên Nguyễn Thái Hoàng mãi, ai cũng tưởng chị là đàn ông , đàn ang thật đó.
- Giọng "đều đều vịt đực" thỉnh thoảng lại "đao to búa lớn" của mình, thích làm hàn lâm phố huyện, vụn vặt triết lý nhân sinh, có lẽ do trời sinh ra thế...Tạo hoá vốn đầy bất cẩn và tuỳ hứng, đang nặn mình hết sức trau chuốt (từ chất bột, đến các đường nét chọn lọc, khả dĩ trên khuôn mặt), bỗng dưng bị một lý do gì đó thúc giục (tẩy trần, xổ ruột, đi ăn tiệc, chơi gái, chích "cơm đen" chẳng hạn) thế là nặn quấy nặn qúa cho xong để còn đáp ứng các nhu cầu tự thân, thành thử, lẽ ra được làm đàn ông, như mọi người đàn ông khác trên đời, chỉ vì thiếu mất "tí ti nguyên liệu" mà phải làm đàn bà, và cả đời giấu cốt cách đàn ông trong cơ thể đàn bà, muốn bay không nhấc nổi mình mà bay ...
- Sao chị lấy lắm bút danh thế, có phải chỉ tình cờ, ngẫu nhiên hay có tình ý gì không?
- Mình lấy nhiều bút danh vì nhiều lý do. Thứ nhất phải phân thân thành trăm mảnh để qua mặt lũ mũi thính, tai dài của đảng, cho nên lúc là cá nhân, lúc hội tụ lại thành nhóm phóng viên Hà Nội, nhóm phóng viên VNN... "xuất quỷ nhập thần" để đánh lạc hướng lũ chó săn, vốn được đảng huấn luyện vô cùng bài bản. Công an là phương tiện để đàn áp nhân dân mà: Người việt nào cũng bị hành, nhũng tham nào cũng bỏ qua, thầy bà nào cũng nịnh hót" Vì thế việc chọn tên không hề ngẫu nhiên đâu, mà có ý có tứ cả đấy. Ví dụ Thái Hoàng thì ai cũng biết là do tính thoáng hài của mình rồi, cả thơ lẫn văn, hay báo, đều rất thích rắc nấm cười vào trong câu chữ, cho độc giả ít nhiều được thư giãn, sau những phút than dữ vì công việc, chồng con, bệnh tật v.v và v.v(vui vui và vui vui).Hơn nữa còn là con cháu của Nguyễn Thái Học, nhà cách mạng thực sự của Việt Nam. Còn Thái Bình là mảnh đất mình đặc biệt yêu mến, nơi có "thần tình yêu, kho hoang tưởng ngàn đời" của mình ở đó, nơi mình trú ngụ trong những ngày đau thương mất mát (1995-2005), khi bị đẩy ra khỏi báo Cựu Chiến Binh, phải lang thang kiếm ăn, để còn có cái mà cựu chén binh( sau những ngày dài ngán ngẩm cho thân phận cựu chán binh của mình) ...Mặt khác, nó còn là mảnh đất cực kỳ khổ ải, ghi nhiều, "dấu son" của dân tộc, từng là kho cung cấp sức người, sức của trong chiến tranh, song cũng là nơi nhận về nhiều đau thương mất mát nhất, từ số lượng bà mẹ Việt Nam anh hùng, các thương bệnh binh nhiễm chất độc da cam, tỷ lệ trẻ em tật nguyền" bao giờ cũng đứng nhất nhì miền Bắc( Sau Thanh Hoá anh hùng) .Trong thực tế, cũng là nơi tệ nạn tham nhũng diễn ra nhiều nhất, đến mức khi về lại Thái Bình để viết bài"Thái Bình dạy sóng" mình đã phải tức cảnh...mượn thơ để tả:

Bố cạn tiền rồi cán bộ ơi.
Bão lũ sủi sôi cuốn sạch rồi
Thi đua đã khiến thua đi mãi
Chú phỉnh tôi rồi, chính phủ ơi...
v.v và v.v (vui vui và vui vui)


- Chị Thuỷ ơi, Mai Xuân Thưởng là ai vậy? Sao trong các bài viết về dân oan của chị luôn có tên này, từ vườn Hoa Mai Xuân Thưởng, đến nhà tiếp dân trung ương số 1 Mai Xuân Thưởng?
- Mai Xuân Thưởng là nhân vật lịch sử của dân tộc mà mình vô cùng quý trọng. Ông sinh năm 1860 tại Bình Định, đỗ cử nhân 1866, mất 1887 do từ bỏ con đường làm quan, đứng ra kêu gọi thanh niên đứng lên đánh Pháp, theo lời kêu gọi của Vua Hàm Nghi trong phong trào Cần Vương, thế là bị Pháp chém đầu chưa đầy một năm sau đó,
khi chớm sang tuổi 27.
- Nè, em thích nhất bài "Người thờ cha già dâm tặc" của Võ Quế Dương đó, có phải của chị không?
- Võ Quế Dương là bài viết đầu tiên của mình về anh Nguyễn Phúc Trường ( thôn Vân Dương, xã Vân Nội, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) vì lấy thân mình chèn bánh ô tô để giữ lại mảnh đất mà anh có công khai phá từ 16 năm trước, không cho công ty Kinh Bắc cướp trắng bán cho chủ đầu tư của Nam Hàn mà anh dũng hy sinh (hệt Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo) vậy, chỉ có điều cái chết của Tô Vĩnh Diện là cái chết được đảng và nhà nước khoác danh nghĩa, còn anh Trường thì được dân làng khiêng lên tận uỷ ban nhân dân tỉnh để biểu tình, gây ắc tách cả một đoạn giao thông dài. Sau khi viết xong bài:" Chuyện xảy ra trên quê hương quan họ- giết dân để cướp đất" cần che giấu tung tích, mình liền lấy luôn tên xã, tên huyện của nhân vật để làm bút danh, đánh lạc hướng của lũ công an đảng, đồng thời chửi luôn cả ông...phá tổng biên tập Đặng Vương Hưng, vì cái thói giả nhân giả nghĩa của ông ta trong việc chơi gái, ăn chặn tiền nhuận bút của gia đình liệt sĩ Nguyễn văn Thạc (giống hệt thói đạo đức giả của đảng cộng sản Việt Nam)
- Lại còn Nguyễn Nại Dương nữa chứ, tại sao không phải là đại mà là nại vậy, nghe kỳ qúa hà?
- Nại Dương chỉ đơn thuần là ánh dương nhẫn nại chiếu sáng trên bầu trời. Chả là mình vốn dòng dõi khoa bảng mà, mấy đời ông, cha đều là túc nho cả. Nếu đẻ con trai chắc chắn mình chọn tên Nại Dương để đặt cho con đó. Nếu ai không hiểu cho là kỳ quặc, cổ hủ, nhưng hiểu ra rồi thì khi cháu lớn lên, khối cô phải lòng đấy
- Chị Thuỷ ơi, ông xã nhà chị có ủng hộ việc làm của chị không?
- Ông ấy gõ đầu trẻ như mình ngày xưa vậy, sau khi "mất dạy, vô lương", mình phải chuyển sang gõ đầu mình như hiện tại, còn ông ấy là quan võ, dạy thể dục chỉ cần mấy động tác: "Trước thẳng, sau cong, giữa ngoằn nghèo", thôi, chả liên quan gì đến nhau cả, nên thường xuyên gõ đầu nhau chan chát.
- Í hí, chị lại hài rồi, gõ đầu nhau chan chát thì làm sao có liền hai Cách Cách ?
- Không phải Cách Cách mà là Công Chúa. Khi lấy ông ấy, mình vẫn "đáng giá nghìn vàng", nghĩa là vợ cả, hoàng hậu chứ có phải vợ hai, hay cung tần mỹ nữ hoặc thứ phi (của dùng rồi đâu)?
- Ừ hứ, xem phim tàu cứ thấy gọi Cách Cách nghe hay hay, hoá ra con bà cả gọi là công chúa và hoàng tử, còn con bà hai mới gọi là Cách Cách và Tiểu A Ka à, hay nhảy?
-Trở lại câu hỏi của bạn, của đáng tội, thỉnh thoảng chán gõ đầu nhau thì quan văn "đè" quan võ, à quan võ đè quan văn một chút, song lại việc ai nấy lo thôi, ông ấy chẳng quan tâm gì đến việc vợ "cào mây cuốc gió" trên giời. Vì thế các sản phẩm tinh thần mà mình "cào" được, dù có xếp lại thành bài, thành chương, thành sách, thì cũng chỉ là "thuốc ngủ liều cao" thôi, khi nào muốn ngủ lại lôi ra, đọc vài dòng là mắt díu lại, một dòng tơ bọt chảy vắt từ phải sang trái, từ miệng xuống cằm như "cầu vồng" chợt hiện sau...môi vậy.
- Ôi , đúng là chị thật, ai cũng cù được. Chị Thuỷ ơi, sao hội dân oan Việt Nam lại ra đời vào đúng 12 giờ trưa ngày 9-12 vậy, nhảy không kịp à?
- Đơn giản vì đẻ vào buổi trưa là thông lệ của gà mà. Sau bao nhiêu ngày nhếch nhác tro than vì bới rác, cuối cùng, nhờ sự trợ lực của thiên nhiên, của thời gian, của các nhà dân chủ, nên gà vẫn đẻ. Cho dù xung quanh mình là diều hâu, quạ khoang, cú vọ , là thế lực thù địch công khai hoặc ngấm ngầm, đòi giết chết tươi ý tưởng, mầm mống "nổi
loạn, tạo phản" của mình cho bà con đi chăng nữa, gà vẫn đẻ, vẫn đập cánh, la làng:

Cục ta cục tác
Công an ác ác ...
Tôi đẻ trứng tròn,
Vừa xám vừa nâu


- Thật là tuyệt vời.
Giữa trưa vắng, nắng ngời chân tóc.
Giữa kẻ thù trứng cứ đẻ ra...
Vinh quang thay là một quả trừng tròn
- Ừ, nhưng "mái non, con dại", nên vẫn đang lúng túng như gà mắc tóc ấy. Biết bao nhiêu việc phải làm, nào "tìm rơm để lót ổ" (Văn phòng), nào xoè cánh che chắn để lũ diều hâu quạ mổ, khỏi đập vỡ trứng, nào bới rác, tìm sâu để tiếp tục đảo và ôm ấp, cho trứng nở thành gà ... v.v và v.v(vui vui và vui vui)
- Chị Thuỷ ơi, đã có nhiều, người tài trợ cho hội chưa vậy?
Tính đến hôm nay là hơn 1000 USD rồi , tiếc là đồng tiền lêu lổng qúa
- Ủa sao vậy?
- Vì chị trưởng ban tài chính bị mất chứng minh thư, nên không đứng ra nhận thay cho bà con được, 4 người khác trong ban thì lại nhát chết, sợ công an buộc án, gán tội (Nhận tiền của "bọn lưu vong phản động nước ngoài") nên trốn biệt, phải nhờ người của ban thư ký nhận giúp, lại không tự nguyện, tự giác nên bát nước công đức chuyển vào tay bà con chỉ được 1/3 (2.600.000 VND) 2/3 còn lại trút hết vào túi họ, nên mình đành phải "stop" nhờ các sáng lập viên của hội giữ hộ, khi nào kiện toàn, củng cố lại nội bộ mới công bố địa chỉ , điện thoại, người gửi, để mọi người chuyển tiếp
- Rắc rối ghê chị ha!
- Ừ, người Việt Nam mình mà, bị đảng cướp bóc đến cạn kiệt, thiến mất nhân cách danh dự nên không ít kẻ tự biến mình thành Mã Giám sinh thời đại: "Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê"
- Nè ở Việt Nam bây giờ là 12 giờ đêm rồi đó, phải trả chị về với "chính( chồng) chị và chiếc giường", đúng hôn?
- Ờ, mình cũng đang muốn ngửi hơi chồng đây, quen rồi, không chỉ mùi hôi nách của chồng mà còn cả ...hôi tanh mùi chồng nữa
- Ủa, nói gì kỳ cục dzạy?
-Thì...đêm đêm ngửi mùi hôi, mùi hôi nách của chồng trong bài "Hoa sứ nhà nàng" mà mình nhại chệch đó. Còn: "gần chồng ắt hẳn ..hôi tanh mùi chồng" trong bài " trong đầm gì đẹp bằng sen, mình cũng nhại cho vui mà.Có cần mình đọc lại không?
- Thì đọc nghe chơi!
- Trong buồng gì đẹp bằng em
Tóc đen, da trắng lại thêm ...mông bành
Miệng cười, mắt sáng long lanh
Gần chồng ắt hẳn ..hôi tanh mùi chồng"
- Trời đất, hết chịu chị luôn, thưa chị Thuỷ...
Hang Đá 31-12-2006
TKTT
(Còn tiếp)

Hà Nội -Cuộc biểu tình vẫn còn tiếp diễnGhi chép:Trần Khải Thanh Thuỷ (và các cộng sự)

1. Xe đưa đón bà con tới nơi tập kết

Kể từ sáng thứ 5( ngày 11/1/2007) gần 500 xã viên làng nghề ở Vạn Phúc thị xã Hà đông đã kéo nhau lên văn phòng chính phủ (35 Ngô Quyền -Hà Nội) biểu tình thị uy. Ngoài một số người đi xe máy, taxi, còn hơn 400 người tràn vào bến xe buýt Hà Nội - Hà đông ngồi chật 7 xe ( Mỗi xe chứa 65 người), với lý do- từ năm 1991, xã đã mượn đất của dân để đưa vào dự án làng nghề. Tưởng làng nghề là bản sắc văn hoá dân tộc, bao nhiêu năm bị bỏ đói, không chế độ, không lương, thưởng, nay nhà nước đã nhìn ra, trông vào, đầu tư nâng cấp, cải thiện đổi mới , đề cao truyền thống làng nghề, có chính sách hợp lý đúng đắn để bà con khỏi thua thiệt, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao tay nghề, cạnh tranh lành mạnh với các đơn vị, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước, đề cao một mặt hàng xuất khẩu đặc biệt là lụa tơ tằm của Việt Nam nên bà con phấn khởi ghi nhận, giao đất, giao vườn.

Nào ngờ 10 năm rồi 15 năm trôi qua, dự án mãi còn bỏ ngỏ. Khi dân lên tiếng đòi trả lại đất cho vay, thì dự án mới nhúc nhích chuyển động, mà số người được đền bù chỉ thuộc về đối tượng nông nghiệp, nghĩa là chiếm 1/4 của làng, 3/4 còn lại chuyên về nghề dệt lua tơ tằm, làm nên bản sắc độc đáo của Hà Tây- quê lụa, thì lại bị bỏ qua. Không những gây nên sự hẫng hụt, bức xúc cho cả vài ngàn người, còn tạo ra tình trạng bất ổn, mâu thuẫn, chia rẽ giữa những người dân trong làng với nhau. Nhà nào một lao động chính là nông nghiệp còn được đền bù chút đỉnh, nhà nào cả vợ chồng, con cái cùng theo nghề dệt lụa truyền thống chỉ còn nước đói...Đói hiện tại, đói tương lai, đói cả niềm tin vào chế độ chính sách. Vì vậy sau những ngày dài ôm nhau mà khóc, ôm nhau mà chờ, bà con quyết định khăn áo, gió đưa, tay gậy tay bị lên trung ương...ngồi chờ...Chưa khi nào cảnh tượng ở bến ô tô Hà Đông lại nhộn nhịp, đông đúc và ồn ào đến thế. Người chen, kẻ lấn, bóng công an chen lấn giữa đám người làng, tay cầm dùi cui, miệng ầm ào la lối, bắt bà con phải xuống, ai về nhà nấy,cấm đi, cấm đến...lơ tơ mơ là bỏ tù cả lũ
Mặc cho dùi cui vung lên, lệnh miệng hạ xuống, bà con từ già đến trẻ, đàn ông , đàn bà vẫn tíu tít lên xe, đuổi xe này thì bắt xe khác, chặn ô tô buýt thì đi xe tuyến, xe đường dài, liên tỉnh. Giữa nơi được gọi là cửa ngõ thủ đô, cách Hà Nội tròn 11 km này, xe chạy nghêng ngang như cua bò lổm ngổm trên đường , bắt xe nào chả được, vẫy lúc nào chả xong, lên xe nào ai cấm? Cả làng chỉ trừ ông già, bà cả ở lại cơm nước, trực chiến, còn lại tất cả kéo nhau lên trung ương kêu kiện. Nhiều hôm xe thoát hiểm chạy ra tận gò Đống Đa còn bị lực lượng cảnh sát 113 của thị xã và tỉnh đuổi theo, áp sát vào lề đường, bắt cả 7 chiếc xe buýt phải đổ người xuống, không cho quay về bến cũ, cũng không cho đi tiếp lên Hà Nội...Thế là 4- 500 con người, bất chấp lệnh cấm, người đi bộ ra vườn hoa Mai Xuân Thưởng, người bắt xe ôm ra 35 Ngô Quyền ngồi đợi, người tức khí gọi ta xi đi tiếp. Cùng là thân phận "cóc, nhái", mà mưa không khắp đất, họ quyết lên thiên đình thưa kiện, kẻo trời hạn hán qúa lâu rồi. Ngồi một chỗ nghiến răng trèo trẹo, sái quai hàm cả 15 năm rồi mà người của "thiên đình" cũng chẳng biết cho, trong khi có giọt mưa nào thì quan xã, quan tỉnh hưởng cả, thừa thãi mới đến dân, mà chỉ dân nông nghiệp mới được chia phần, còn dân làng nghề, dệt ra những tấm vải tơ lụa vàng óng quý giá , cả nước biết đến, Ấn Độ, Trung Quốc phải so bì, thì bị bỏ mặc...
Chẳng còn gì để mất, cả làng lũ lượt kéo nhau đi, với ý chí cao hơn ngọn núi :quyết tâm gặp bằng được chủ tịch nước mới thôi. Khẩu hiệụ mà dân làng căng ra là: "Người dân quê hương cách mạng yêu cầu gặp chủ tịch Nguyễn Minh Triết"Ngày đầu, ngày thứ 2 rồi ngày thứ 15, người dân vẫn tiếp tục bám trụ, mặc công an dỗ dành, doạ nạt, dẹp loạn, đàn áp, giải tán, mặc mưa gió, bão bùng, nhiệt độ ngoài trời xuống tới 10-12 độ C, rét quắt tai, tái môi, cứng hàm, khói thở ra đằng mũi, tay chân nổi da gà, vẫn kiên trì bám trụ. Cứ lấy cổng văn phòng chính phủ làm đích, một tấc không đi, một li chẳng rời. 6 giờ sáng lốc nhốc từ cổng làng đi, 7 giờ có mặt, căng khẩu hiệu và ngồi bệt ăn vạ đến tối...người về nhà đổi ca cho người khác lên, người về ăn uống tắm giặt, mang đồ ăn thức uống cho mọi người, tíu ta tíu tít, đúng như lời kêu gọi của Mác: "Cách mạng là ngày hội cuả quần chúng"...
Giữa trung tâm thành phố, nơi khách tây nhìn thấy , người dân thủ đô trông vào, công an không dám giở trò thô bạo, chỉ chờ đến khi trời tối, bóng đêm ập xuống, lực lượng biểu tình mỏng, vì người đi, kẻ ở, rồi các quan khách nước ngoài ít qua lại, công an mới dám cho xe tù bịt bùng kín mít xúc họ đi. Cả công an tỉnh Hà Tây, công an thành phố Hà Nội, công an phường Hàng Bài cùng kết hợp ...để xua đuổi vài trăm con người ra khỏi khu vực cổng văn phòng, kèm đủ lời doạ nạt, cay cú, qúa khích... nhằm cho người dân biết sợ mà bỏ chạy tán loạn, triệt tiêu mọi mầm mống " nổi loạn", kêu kiện, đòi hỏi
...Mặc cho mưa dùi cui và bão miệng từ đám công an đổ xuống, sáng hôm sau, đến hẹn lại nên, bà con lại lũ lượt rủ nhau đi. Cảnh sắc làng nghề như mang một sắc thái mới, một âm hưởng mới, 10,11 giờ khuya còn líu ríu chia tay, dặn dò, khích lệ. 4,5 giờ sáng đã í ới gọi nhau từ đầu làng đến cuối xóm . Chỉ trừ trường hợp đặc biệt, gần đất xa trời, không người trông nom cơm nước nhà cửa cho bọn trẻ mới ở lại, còn nhà hai người cũng phải đi một, nhà 5 người thì đi bốn, đi ba...người ở lại lo việc "hậu phương", cơm nước , bồi dưỡng sức dân. Càng những ngày sau càng đông hơn ngày trước. Tất cả nêu cao quyết tâm: "Phải đòi cho được quyền lơị đã mất, không thể cứ nên khẩu hiệu "cho dân và vì dân" lại cướp không của dân như thế?"
Hôm nào tránh được nạn công an quấy nhiễu, trốn thoát được sự kiềm toả săn lùng của bọn slochome nội hoá( mũi thính, tai dài, răng nhọn) bà con lũ lượt ở lại, cứ vỉa hè làm nền, bóng cây làm mái , cả trăm con người quây lại bên nhau, che chắn cho nhau, mặc gió rét ù ù thổi, những ngọn lửa quyết tâm của họ không hề vơi cạn , mà còn sưởi ấm cho nhau, động viên khích lệ tinh thần nhau, quyết vượt ra khỏi bóng tối của sự độc tài, đói kém, bất công, ngang trái
Gặp một nhóm bà con ở lại ban đêm , người thu lu trong đống chăn bạt quần áo mũ mãng sùm sụp để tránh rét, tôi hỏi:- Bà con kéo nhau đi đông, lại đi dài ngày như thế này , lấy ai tài trợ?Tất cả cùng nhao nhao trả lời: - Chúng em không có ai tài trợ, chỉ người làng đoàn kết bao bọc cho nhau là được rồi .Khổ thế này đã ăn thua gì so với những ngày thắt lưng buộc bụng trong thời bao cấp:" Tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để thắng Mỹ"...- Thế bà con còn định ở lại đây đến bao giờ?- Bao giờ giải quyết dứt điểm cho bọn em theo nghị định 64 CP, thì bọn em mới thôi, còn cứ cảnh ra vườn hoa Mai Xuân Thưởng, lại đẩy về ủy ban nhân dân tỉnh , rồi tỉnh lại đẩy xuống thị xã , thị xã cố tình ỉm đi là không xong với chúng em- Thế 2 tuần qua bà con đã gặp chủ tịch nước chưa?- Gặp thì còn nói chuyện làm gì, không biết ông ta minh ở đâu, triết ở đâu, chứ 15 ngày qua, dưới con mắt dân làng bọn em, ông ta tối tăm, mù loà chết chóc lắm , ông ta là là tr(Ch)ết, chứ có phải triết đâu?- Không sợ công an phun vòi rồng, hay bắt bớ như đối với nhóm bà con ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng à? Hôm trước cả 8 người bị bắt vào đồn công an Hàng Bài, bị chửi bới, đánh đập và bỏ đói suốt từ 8 giờ sáng đến tận 8 giờ tối đấy thôi?- Sợ gì, sợ thì chúng em đã chẳng dám bỏ nhà bỏ cửa ra đây, có điều những người bị bắt dũng cảm lắm, chửi bới rất hăng, nhất là bà Đỗ thị Luyện, dám tụt cả quần để thách đố lại sự ngạo ngược của bọn chúng, cả nhà sư Thích Đàm Bình nữa, chán cõi đời trần tục, phải lánh đời, lạc đạo mà cũng không xong với chúng, lại phải xông ra giữa đời mà cứu khổ cứu ...mạng . - Sao cái lũ công an phường Hàng Bài này mù loà cả đạo lý lương tâm lẫn luật pháp thế nhỉ, bắt người không có lệnh, thả người cũng không đền bù , giải thích gì. Cứ thích bắt là bắt, nhốt chán rồi không làm được gì lại thả. Không sợ cả 7 tỷ người trên khắp hành tinh nghẹo đầu, lắc cổ, nhún vai, bĩu môi ,bình phẩm à: - The country is no ruler( một nước nước không luật lệ) sao?- Thì chúng biết bà con lên thiên đình thưa kiện, sợ bà con tước mất dùi, gõ thùm thụp vào mặt trống, điếc tai lãnh đạo, điếc tai các nước láng giềng, bị 5 châu 4 biển lên án, nên phải "bắt cóc bỏ đĩa" chứ sao?- Nếu nhà sư Thích Đàm Niêm không kéo số bà con còn lại ở vườn hoa đến đòi người, thì chúng lại tiếp tục nhốt giữ, bỏ đói bà con qua đêm à?- Tất nhiên, sự sợ hãi nuôi dưỡng ý đồ xấu mà, bà con càng sợ chúng càng làm già, bà con ý thức được quyền làm người của mình, nhao nhao đòi thả, nếu không sẽ có các ký giả quốc tế đến tận nơi hỏi han, chụp ảnh, tường thuật cho cả thế giới biết ...khiến chúng mất mặt ấy chứ.- Trời ơi, sao không ghi tên và số hiệu của từng thằng để làm bằng chứng?- Chúng nó biết chơi không đúng luật, nên có dám đeo biển hiệu, mặc quân phục đâu, toàn lập lờ để bức hại dân oan đấy chứ, vì thế đôi co, đấu khẩu một chặp , biết thua cả lý lẫn lẽ, chúng buộc phải thả người.- Thế ngày mai bà con có tiếp tục biểu tình không?- Thứ 7, chủ nhật, các lãnh đạo không làm việc, bọn em lặng lẽ trở về, lo củng cố lương thực, tiền bạc, chăm chút nhà cửa rồi thứ 2 lại tiếp tục đu bám xe ô tô buýt, hoặc luồn lách bằng xe máy, hay tổ chức thuê riêng một chiếc ô tô để đưa đón bà con một ngày mấy lượt tụ tập ăn vạ trước cửa văn phòng trung ương như thế này.- Đoàn kết qúa nhỉ, thế buổi sáng, buổi trưa, bà con ăn uống ngủ nghỉ ra sao?- Đơn giản lắm mà, người nắm xôi, bánh mì, bánh chưng hoặc cơm nắm muối vừng. Nhà đông con của không ngon cũng hết. Cả mấy thúng bánh mì, mấy chục gói cơm nắm, rồi cả rổ củ đậu gọt sẵn chất cao như núi mà chỉ loáng đã hết...Đã có báo chí nào trong nước đưa tin bà con chưa?- Bố bảo cũng chẳng dám đưa, bá ạ, Việt Nam bị xiết họng báo chí mà, chỉ xiết thêm tí nữa là tắc họng giãy chết cả lũ thôi, nên phóng viên họ sợ lắm.- Ô hay thế đi cả năm, mà không có ai găm lên mặt báo một tiếng thì công cốc à?- Lo gì bác, họ muốn lấy dân làm gốc thì phải giải quyết chứ, nếu gốc đổ, cây có đứng nổi không?- Hay lắm, đúng là khẩu khí của "cô gái suối Hai, chàng trai cầu Rẽ"* , ngay cưả ngõ thủ đô có khác, từ lời ăn tiếng nói, cách trang phục, quan điểm, thái độ đều rành rẽ, hơn hẳn những người dân ngoan ở các tỉnh thành khác.- Thì đội ngũ lãnh đạo Hà Tây đểu nhất nước mà bá.-Ấy chết, đểu nhất phải là hệ thống luật pháp ở Bắc Giang và Vĩnh Phú chứ, chỉ có điều người dân ở xa trung ương nên vẫn còn bị tâm thức dốt nát và nô lệ hoá chi phối...-Bá yên tâm đi, cứ với cách điều hành này, thì Hà Tây quê lụa sẽ biến thành ...Hà Tây quê lửa, và sẽ có những Hà Tây trong lòng Vĩnh Phúc, Thái Bình, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, bá ạ...Cho đến thời điểm cuối 1-2007 này, cả một loạt làng nghề ở Việt Nam đã mất, từ cá rô đầm sét, làng hoa Ngọc Hà, làng Đào nhật Tân v.v... làng đúc đồng ở Ngũ xã, làng chạm bạc ở Đồng Sâm( Thái Bình) v.v Còn bây giờ, làng dệt lụa ở Vạn Phúc (Hà đông) còn hay không, phụ thuộc vào thắng lợi hay thất bại của cuộc ra quân lần này , cũng là phu thuộc vào cách giải quyết của ông chủ tịch Nguyễn Minh Triết . Nếu ông thực sự có cái nhìn đúng đắn, minh triết như cái tên của ông thì bà con còn có cơ ngẩng mặt, sống chết với nghề dệt lụa của mình, ngược lại, nếu ông cứ trốn chui trốn lủi mãi thì đồng nghĩa với việc ông treo niêu của cả chục nghìn người dân của làng nghề, bóp chết nghề dệt lụa truyền thống nổi tiếng của Việt Nam , bằng chính bàn tay vô cảm, độc tài, chết chóc của ông.
Cuộc biểu tình vẫn còn tiếp diễn, cả 6 triệu con mắt của đồng bào hải ngoại và 14 tỷ con mắt của thế giới đang nhìn vào để xem cách giải quyết của ngài chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ?Hy vọng, ông sẽ khác với các đời chủ tịt khác như Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương ...dở dở ương ương, làm khổ trăm dân trước đó .Ngô Quyền 26-1-2007TKTT

2. Ngồi chờ tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng

29 December 2006

Vườn hoa Mai Xuân Thưởng- những bông hoa bị giày xéo

Phóng sự điều tra: Trần Khải Thanh Thuỷ

Bất cứ ai là người Hà Nội, nghe nhắc đến vườn hoa Mai Xuân Thưởng cũng phải rùng mình ngao ngán, bởi nơi đây chứa chất bao cảnh ngộ đau buồn của 64 tỉnh thành cả nước dồn về. Những anh Pha,chị Dậu, Chí Phèo trong tác phẩm hiện thực phê phán của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố thời Phong kiến tham tàn thối nát, sao lại ùa trở về thiên đường xã hội chủ nghĩa do đảng tài tình lănh đạo, và còn khổ sở gấp trăm ngàn lần thời xa xưa? Bài viết này chỉ xin đề cập tới vài mẩu đời phụ nữ được chính thể cộng sản "chăm sóc, ươm trồng" trong vườn hoa của tổ quốc (chính xác hơn là địa ngục xã hội chủ nghĩa) mà bản thân tác giả trực tiếp tṛ chuyện, gặp gỡ, ghi nhận...


Người đầu tiên tôi gặp là chị Vũ Thị Tuyết, sinh 1976, thôn Chi Thuỷ, xã Chi Thuỷ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây, từng là một cô học sinh ngây thơ xinh đẹp trong trắng chưa từng. Trong tất cả các giấy xác nhận của trường tiểu học, trung học, từ giáo viên chủ nhiệm cũng như bí thư đoàn trường, bí thư đoàn xã, đều công nhận điều này.

Năm 1997- Tuyết tṛên 21 tuổi - lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời người con gái, tuổi mà các nhà tâm lư học vẫn gọi bằng một danh từ mỹ miều là: Mùa xuân của cuộc đời- mọi thứ từ tâm sinh lư, vốn sống, cơ thể đều bừng nở dưới ánh mặt trời như đoá hoa mùa xuân tươi thắm, khi ấy Tuyết trở thành vợ của tên vũ Văn Bính(thôn Cổ Chế, xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên). Cả hai ra uỷ ban nhân dân xã lấy giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16-10-1997 rồi tổ chức đám cưới. Một đám cưới giữa mùa đông se lạnh, tuy không phải to nhất huyện nhưng cũng đông đủ sự góp mặt của quan viên hai họ, bà con làng xóm và bạn bè hai bên với số lượng lên tới vài trăm mâm, ăn rả rích ba ngày trời không hết. Nào ai ngờ khởi đầu của một niềm vui lớn cũng là bắt đầu của một nỗi bất hạnh lớn không thể ngờ tới trong cuộc đời Tuyết.

Ngay sau khi sinh con trai đầu ḷòng (Cháu Vũ văn Pháp sinh ngày 20-10-1998) Tuyết đã phát hiện ra mình lấy phải một người chồng vô cùng thô lỗ, vũ phu, lại có tính trộm cắp vặt để thoả mãn những thói xấu riêng của bản thân. Ba năm chung sống, dù Tuyết luôn thể hiện mình là người con dâu hiền thảo, nền nếp trong nhà, song vẫn luôn bị mẹ chồng cạnh khoé, bản thân tên B́inh cũng vào hùa với mẹ đẻ để hằn gắt xúc phạm tới danh dự, nhân phẩm của cô. Chỉ Vìì hạnh phúc được làm mẹ, với thói quen của người phụ nữ á Đông, nên Tuyết đã cố quên đi tất cả để yên bề gia thất. Không ngờ sự chịu đựng, nín nhịn của cô đã nuôi dưỡng thói tham lam độc ác trong con người Bính, để cho thói gia trưởng, bạo hành lấn lướt.

Ngày 20-6-2001, Tuyết bị mất một đôi ṿng tàu, suy đi ngẫm lại trong nhà chỉ có hai vợ chồng là người biết rơ nguồn gốc xuất xứ và chỗ cất giấu nên Tuyết từ tốn hỏi chồng:

- Em không thấy đôi ṿòng tàu mẹ cho làm của hồi môn đâu anh ạ, anh có lấy của em không?

Chuyện chỉ đơn giản có thế mà đang nằm bên cạnh, tên Bính bật dạy, đấm, đá té tát vào mặt vào người Tuyết, vừa đánh vừa nghiến răng trèo trẹo:

- á à, mày dám nghi ngờ ông hả, đồ chó cái...

Khi cô oằn người chống đỡ, tên Bính c̣òn cầm cả khúc củi nặng, xoay người, dùng sức ở thế vặn thân, vung mạnh cánh tay, dồn lực vào hai cổ tay để bổ xuống đầu vợ, ngay lập tức Tuyết ngã vật ra nền nhà, bất tỉnh.

Trở dạy, Tuyết thấy đầu đau ê ẩm, song vẫn cố sức chịu đựng để trở lại với công việc đời thường, cơm nước, giặt giũ, chợ búa hầu hạ chồng con cùng bà mẹ chồng lắm điều, dù sức khoẻ cứ liên tục giảm sút, đặc biệt chứng đau đầu xuất hiện mỗi ngày một thường xuyên hơn. Sau những phút choáng váng là ngất sỉu không biết trời đất là gì...Nhiều lần liên tục như vậy, Tuyết quyết định vào bệnh viện huyện khám. Không tin vào kết luận của y bác sĩ tại bệnh viện đầu tiên "có dấu hiệu của bệnh động kinh do chấn thương sọ não", Tuyết tìm đến bệnh viện huyện Thường Tín để khám tiếp. Qua tiến hành chụp cắt lớp, các bác sĩ đã kết luận bệnh của cô "bị động kinh do chấn thương sọ não" là hoàn toàn chính xác. Bây giờ muốn lành bệnh, phải ở lại bệnh viện điều trị và bỏ tiền mua thuốc tiêm, uống hàng ngày

Vì cả hai bên gia đình đều nghèo, bản thân Tuyết cũng giấu bệnh của mình không muốn cho mẹ đẻ và chị ruột biết để không phải lo lắng, nên Tuyết thường xuyên trong cảnh đói thuốc, đói ăn. Kết quả chưa đầy 3 tháng sau ngày bị chồng đánh(9-2001) trong lúc đang thổi cơm rán đậu, cơn động kinh kéo đến, Tuyết lảo đảo, choáng váng ngã chúi đầu xuống đất, bị cả chảo mỡ sôi dội vào mặt, vào người gây bỏng nặng. Khi đó tên Bính- chồng cô mới chịu đưa vợ vào viện.

Vì không muốn gánh chịu mọi hậu quả do việc chi phí thuốc men, viện phí phát sinh, nên chỉ sau một tuần điều trị tại bệnh viện huyện Phú Xuyên, bà Nguyễn thị Tư, -mẹ chồng Tuyết đã tìm vào và kiên quyết bắt về, mặc các bác sĩ phản đối, la ó, yêu cầu bà phải chuyển bệnh nhân lên bệnh viện 103 thị xã Hà Đông thuộc tuyến trên, Vì bệnh viện cấp huyện không thể đảm nhận được. Song vốn tính tham lam, ích kỷ, cố chấp, bà kiên quyết đưa con dâu về với ly1 do chữa thuốc đông y cho rẻ.

Về nhà một thời gian, sợ phát sinh tốn kém, bà lấy cớ không có tiền mua thuốc nên bỏ luôn thuốc nam rồi vu cho con dâu ăn cắp 82.000 VND để đuổi về nhà mẹ đẻ. Vì quá thương con (khi ấy mới 3 tuổi) Tuyết nấn ná ở lại, và trong thời gian này, liên tục bị bỏ đói, bị xúc phạm cả thân thể lẫn tinh thần. Các vết bỏng chưa kịp lành, sau mỗi trận đòn của chồng mỗi ngày lại bị loét sâu thêm. Lần cuối cùng, cô bị đánh liên tục từ 13 giờ đến 22 giờ đêm, bị băm nát 4 bộ quần áo, bị mẹ chồng và chồng kiên quyết đuổi khỏi nhà giữa đêm khuya, mặc hàng xóm khuyên can, la lối. Cuối cùng không còn cách nào khác, cô phải nhận từ tay bà hàng xóm tốt bụng 10.000 đồng để đi xe ôm, và một chiếc bánh mỳ chống đói sau cả ngày trời ăn no đòn chồng và những lời chửi bới mắng nhiếc của mẹ chồng mà không hề được ăn cơm...12 giờ đêm, cô lần được về nhà trong tình trạng thân tàn, ma dại, chỉ thốt lên được một tiếng: "mẹ ơi, con khổ qúa" rồi gục ngã ngay trên bậc cửa, mẹ đẻ và chị gái vội vàng túm luôn người chở xe ôm mang cô đi bệnh viện cứu chữa trong đêm.

Nửa năm trời nằm viện, chỉ có người chị goá bụa và bà mẹ già nua, khốn khó ở bên chăm sóc cơm nước, thuốc thang. Cả gia đình chồng từ tên Bính, bà Tư, đến các em dâu, em rể không một lần lai văng... Dù vậy nỗi nhớ thương cũ Phát không ngày nào không âm ỉ trong trái tim Tuyết. Vì vậy, vừa được ra viện, Tuyết trốn mẹ, bỏ qua mọi lời can ngãn của chị ruột về lại nhà chồng thăm con. Khỏi phải nói đến nỗi đau đớn khổ sở của cô khi bị bà Tư cấm cửa không cho vào nhà, nỗi nhức căng lồng ngực, nỗi bồn chồn thẳng thốt đến nổ bùng thể xác trong những giờ chầu chực, chợ đợi ở ngoài đường, mong nhìn thấy mặt con. Bao nhiêu người hàng xóm đi qua đều bị cô túm áo, quỳ xuống dưới chân họ để năn nỉ mọi người nói khó với mẹ chồng và chồng cho cô vào nhà thăm con, hoặc đưa cháu ra ngoài để gặp mình. Không ngờ mẹ con tên Bính- những kẻ hành xử khốn nạn nhất trên cơi đời này, đã xâm phạm thân thể cô một cách dã man, còn tiêu huỷ luôn cả chút đạo lý làm người, cướp nốt cả ước ao nhỏ bé, chính đáng của cô, kiên quyết không cho cô gặp mặt con. Đã thế, còn nhồi nhét vào trí óc ngây thơ non nớt của con cô những lời độc địa: Con điên đấy, mẹ mìn đấy, con đừng dại đi theo nó là chết đấy, nhớ chưa v.v và v.v.

Cả tuần dài chầu chực, chờ đợi không được gặp con, cô vẫn kiên trì nán đợi, hy vọng tình mẫu tử, sự kiên trì của mình sẽ là chút ánh sáng chiếu rọi vào lương tâm của hai kẻ độc tài... không ngờ, vừa kịp nghe những người hàng xóm cám cảnh mình, cảnh đời nói lại những lời báng bổ xúc phạm của bà nội và bố đẻ về bản thân mình- người đã mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, dứt ruột đẻ ra đứa cháu đích tôn nối nghiệp dòng họ Vũ...cô có cảm giác như bị một lưỡi dao xỉa ngay vào giữa ngực và lăn ra bất tỉnh.

Cả chục người qua đường xúm vào, người giật tóc, người day trán, người xoa dầu, giúp cô hồi tỉnh, song trí não vẫn ngẩn ngơ, biếng nhác như người vừa ở cơi âm hiện về. Một bà đi chợ, nhanh trí lấy chùm chìa khoá ấn vào tay cô, lắc lắc cho những âm thanh kim loại va đập vào nhau, tạo thành những tiếng kêu leng keng vui tai, thúc hối, cô mới hồi tỉnh trở lại và nhớ ra hoàn cảnh thực tại của mình... Ngay lập tức, cả suối ngôn từ và những hàng nước mắt giàn dụa ào ra từ cơi lòng sâu thẳm, đau đớn. Nỗi bi đát bất hạnh mà mới 26 tuổi cô phải gánh chịu, khiến chút cay xót cứ dâng lên tê dại cả hai cánh mũi của những người chứng kiến. Người vơ nát bụi cây ven đường, nguyền rủa thói đời đê tiện, mà một phụ nữ mảnh mai yếu ớt như cô đang phải chịu đựng. Người lên án hai kẻ táng tận lương tâm là chồng và mẹ chồng cô, đã không một chút xót thương sám hối còn vu vạ cho cô bị điên từ nhỏ, để cố tình rũ cô như rũ một miếng giẻ lau chân, để kịp thời tung mình vào một mối tình mới, một trò chơi mới, cũng là một âm mưu mới: cưới lại vợ khác cho con, mặc cô trong cảnh đau đớn ê chề Vì thể xác tàn tạ, cơi lòng tan nát.

Từ đó, Tuyết bỏ nhà, bỏ quê đi lang thang ra Hà Đông, Hà Nội, gặp đủ mọi hạng người trong xã hội, từ người bán bánh mì, hay phu hồ, cửu vạn, rửa bát, xe ôm... Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương, cuối cùng nhập vào đoàn người khiếu kiện tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng và ở lại ôm chân anh Lý Tử Trọng. Thỉnh thoảng bị công an dồn đuổi lại lặng lẽ bỏ anh mà đi, rồi nghe theo tiếng gọi sâu thẳm từ âm hồn anh, lại tìm về trú ngụ. Trong hồ sơ khiếu kiện của mình Tuyết ghi rõ:

- Lý do khởi kiện:
+ Bị gia đình chồng đánh đập ruồng bỏ và vu khống bị bệnh động kinh từ nhỏ để lấy vợ khác (ngày 19-2-2004) trong khi giấy chứng nhận đăng ký kết hôn lần một (ngày 16-10-1997 vẫn còn nguyên gía trị).

+ Cố tình chia rẽ tình cảm hai mẹ con, bằng cách dạy con gọi mẹ là con điên, áo ộp, phù thuỷ, mẹ mìn, yêu tinh, quỷ hiện h́nh v.v.


Ngoài ra còn bị các chính quyền huyện Phú Xuyên chửi mắng, vu tội "thiếu văn hoá, thường xuyên đến ăn vạ cán bộ và lănh đạo huyện". Cụ thể bị 4 công an đánh đập dã man đến toé máu, ngất lịm, rồi khiêng ra khỏi cổng trụ sở vứt như vứt một bao cát. Một trong 4 tên có đeo ảnh và phù hiệu mang tên Nguyễn Đức Cường, đồng thời còn bị 3 cán bộ quân đội là Lục,Trịnh, Định đánh trọng thương ngay trước cổng của trại...

- Hồ sơ đi kiện gồm:
- Giấy chứng nhận bị động kinh của bệnh viện
- Đơn xin chứng thực về tình trạng sức khỏe của bản thân
- Giấy xác nhận của giáo viên chủ nhiệm và ban giám hiệu trường tiểu học Tri Thuỷ
- Giấy xác nhận của bí thư chi đoàn thôn Tri Thuỷ từ năm 1992-1996 (trước khi lập gia đình) cùng xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Tri Thuỷ... mà nội dung của các giấy tờ này là: "Xác nhận chị Vũ thị Tuyết là học sinh ngoan, khoẻ mạnh, học tập tốt, là đoàn viên, thanh niên gương mẫu, luôn đi đầu trong mọi hoạt động của chi đoàn thôn cũng như đoàn trường ...

Ngậm ngùi cầm hai tấm ảnh của Tuyết trên tay, đọc đi đọc lại những dòng chữ nắn nót của cô trên hồ sơ khiếu kiện, phải tả lại những việc làm đồi bại khốn nạn nhất của gia đình chồng, cũng là nỗi đau đớn khôn nguôi của mình, tôi bần thần xác nhận:

- Cả chính quyền huyện, tỉnh cùng làm ngơ trước nỗi đau khổ của em, đó cố tình cấp giấy chứng nhận kết hôn lần hai cho chồng em, lại không cho em được phép gặp con? Thật không hiểu nổi những con người mới xã hội chủ nghĩa, tất cả đều mù loà về đạo lý, lương tâm rồi ư?

Trước câu hỏi như xoáy vào lòng người của tôi, cùng bao cặp mắt của những người dân oan bất hạnh dồn vào, Tuyết rắn rỏi trả lời, chiếc khăn bịt kín hết cả cằm, mặt, chỉ để lộ một con mắt không bị thương, giật rung liên hồi theo nhịp thở, lời nói:

- Mẹ con tên Bính cậy có người nhà làm ở toà án huyện nên cố tình vu khống em bị bệnh động kinh từ nhỏ, còn cấm vận tình cảm hai mẹ con em nữa, nhưng dù thế nào em cũng phải đưa toàn bộ vụ việc này ra ánh sáng, yêu cầu toà án nhân dân huyện, tỉnh có thái độ xử phạt nghiêm khắc với tên Bính Vì tất cả các trọng tội đã gây ra cho em, trong đó có tội chà đạp lên nhân phẩm làm người của phụ nữ. Sau đó bắt gia đình chồng phải bồi hoàn mọi thiệt hại về tình trạng sức khỏe cũng như tinh thần của em hiện tại

- Thế còn cháu Phát, em định thế nào?

Nhắc đến con, gương mặt dị hình, dị dạng của Tuyết căng lên và ngày càng trở nên méo mó, cặp mắt ướt lúc nhìn thẳng vào mặt người đối diện, lúc ngây đờ bất động trên khuôn mặt bất thành nhân dạng:

- Không, nhất định em phải đ̣i bằng được quyền lợi của mình là được qua lại thăm con hàng tháng. Dù thế nào nó vẫn là đứa do em dứt ruột đẻ ra. Nếu không Vì đã chót sinh ra nó trên đời, không Vì mẹ già qúa khổ, chị gái qúa lo lắng xót thương cho mình, em đã đâm đầu vào ô tô chết ngay trước cửa nhà thằng chồng bội bạc rồi... chỉ Vì nghĩ đến con mà em quyết định phải sống...

Tôi hiểu, dù trong cảnh thân tàn ma dại, chín phần quỷ một phần người, dù bị hoàn cảnh sống xô đuổi ruồng bỏ đến mức, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, phải làm đủ mọi việc từ ăn xin, lượm rác, hầu hạ vệ sinh cho những người già cả gần đất, xa trờ́ để tồn tại, trong Tuyết vẫn khắc khoải một niềm tin đau đáu về đứa con mình. Cháu Vũ Văn Phát, sinh ngày 20-10- 1998. Tuy bị gia đình chồng đầu độc, chia rẽ tình cảm mẹ con, nhưng rồi trong cảnh "dì ghẻ con chồng", nghe những lời hàng xóm nói lại về mẹ đẻ - một người phụ nữ vốn trẻ trung, xinh đẹp như hạt gạo, cô Tấm làng quê... thì nhất định, tình mẫu tử sẽ trỗi dạy, cháu sẽ tìm về bà ngoại, bên mẹ và bác ruột, để bù đắp san sẻ cho ba người phụ nữ bất hạnh nhất trần đời này. Người Vì chồng chết phải thắt lưng buộc bụng, ở vậy nuôi hai con gái trưởng thành. Người buộc phải bỏ chồng, cắp con về nhà mẹ đẻ Vì chồng cờ bạc, nghiện hút mắc căn bệnh thế kỷ, còn mẹ bị bà nội và bố đẻ chửi bới đánh đập đến trọng thương, ra đi, không một đồng xu dính túi...

Nắng tắt dần trên những lối đi, một ngày như mọi ngày tại vườn hoa đau thương định mệnh. Trần mây bị đẩy gần sát xuống mặt đất, ngay trên đầu anh Lý Tử Trọng khiến không gian càng thêm nức nở, ai oán. Tôi dắt xe ra về, lòng nặng trĩu những nỗi buồn khó tả, chiếc xe ́ ra không chịu nổ, trong khi tiếng giục giã của mọi người cứ réo rắt bên tai:

- Kìa chị, đi ngay đi không mụ Thọ báo cho con Minh béo, và thằng ánh công an Hà Nội bây giờ... Chúng nó hết giờ làm việc rồi, nhưng chỉ cần nghe tên chị là mật báo cho nhau, rải quân, bắt liền... Nào, để chúng tôi mỗi người một tay, đẩy xe giúp chị...

Hà Nội 15-12-2006
TKTT

02 November 2006

Trò Chuyện Cùng Anh Lưu Ngọc Bang

Trần Khải Thanh Thủy

Lời giới thiệu VNN : Sau nhà viết kịch Lưu Quang Vũ dám lớn tiếng chỉ thẳng vào đảng: "Ông không phải là bố tôi", và sau đó bị chết vô cùng thảm khốc trong một tai nạn giao thông hoàn toàn bí ẩn, là nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ dám lớn tiếng kết tội đảng: "mày là thằng khốn nạn, đểu giả nhất trên thế giới này..."

Xin các quý vị độc giả theo dõi câu chuyện của nhà văn này với một người Việt ở Anh Quốc ngay sau khi cuộc hỗn chiến xảy ra

Tôi đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, trong khung cảnh thời gian trắng và bức tường cũng trắng, lặng nghe tiếng những giọt nước chảy trong dây dẫn, nhìn mấy chiếc kim đồng hồ uể oải tiếng thời gian, tha hồ thả hồn đi hoang, sang tận xứ sơ? Australia, nơi tôi có những người bạn và người chị tuy mới quen biết mà hết sức thân thiết, những người đã nhường cơm, xẻ áo để tôi có tiền "đại tu" toàn bộ cơ thể, trước tiên là tẩy rửa chất độc, nâng cấp chất lượng gan sau bao năm trời oằn mình chống chọi với đủ các mưu mô xảo quyệt bẩn thỉu của đảng csVN thông qua cánh công an bộ, đặc biệt là thời gian này ... bỗng nghe tiếng điện thoại réo vang, theo thói quen tôi vội vàng áp điện thoại vào tai, đầu dây là giọng trầm ấm của một người miền Nam, rất tự nhiên, anh tự giới thiệu :

- Chị Thuỷ hả, tôi là Lưu Ngọc Bang, nghe nói chị lại bị đám dân chúng qúa khích và lũ đầu gấu kéo đến nhà hành hả, sao tệ qúa dzậy ?

- Dạ vâng, suýt nữa thì bị "quần chúng" xé xác anh ạ . Mà có gì đâu, chỉ vì mấy bài báo đăng trên mạng làm đảng xấu mặt ấy mà .

- Trời đất, cả một hệ thống Pháp luật xúm vào hành một người đàn bà không được, giờ mượn tay đám đầu gấu, và đám quần chúng ít học đến nhà ra tay với chị sao ?

- Vâng, sau khi giở trò giáo huấn, ngày ngày lên đồn khai báo, viết tường trình, khui tư tưởng, tài liệu, điện thoại không được, đảng dở trò đấu tố, cũng không xong, lôi cả mẹ già, em ruột lên đồn để bẻ hành bẻ tỏi, để mẹ già có hướng giáo dục con tư duy theo đường lối thối nát, độc ác của đảng, em khuyên bảo chị về với chính sách ngu dân của công an, cũng không có hiệu lực, đảng lại dở trò đểu giả, lưu manh này, anh ạ .

- Chị có thể kể lại mọi việc được không ?

- Dạ vâng, em chính là nạn nhân của một cuộc bạo động này, xin kể anh nghe .

Khoảng 6 giờ chiều tối qua (27-10-2006) , em vừa đón hai cô con gái từ trường về nhà, thì ông tổ trưởng dân phố và bí thư đảng uy?, cùng chủ tịch phường mò đến, tưởng họ là người tử tế, em mở cửa mời vào, ai ngờ ngồi chưa ấm chỗ thì cả đám đông quần chúng gồm cả thanh niên trai tráng, phụ nữ, cựu chiến binh, thương minh nặng kéo đến ... tổng cộng không dưới 100 người, tất cả tràn vào nhà, quây kín cửa ra vào, cửa sổ, trèo lên giường, lên xe máy, la ó, đập phá,

- Vì tội gì đó chị ?

- Vẫn chỉ cái tội em đã được chính quyền phường xã kết hợp cùng cơ quan an ninh từ bộ, sở, quận, phường đưa ra...giáo dục, cấm em lên mạng internet gửi bài, nhận thư nhận tiền của Hải ngoại mà em vẫn cố tình không nghe, đã thế còn viết bài nói rõ chế độ, đảng, bác cùng các lãnh đạo đảng, thông qua cả loạt bài viết vừa rồi, cụ thể như: "Đảng buông vạt váy tôi ra", "Bình quân đại láo", "tưởng niệm hay tưởng liệm" ? "Hà Nội có một quan ôn, đêm chong đèn ngồi hóng chuyện" v.v,

Trong bài em có trích dẫn một câu của Tiên Điền Nguyễn Du : "Đầy nhà vang tiếng nhặng xanh . Rụng rời khung cửi tan tành gối mây", tả cảnh lũ công an đến khám nhà, và coi chúng như ruồi nhặng đẻ ra từ đám lãnh đạo giòi, bọ cộng sản ... thế là em bị bọn công an và chính quyền bù nhìn giật dây đám quần chúng ấu trĩ và đầu gấu côn đồ (thực chất là công an giả danh hoặc người của công an gài vào, để kích động...bằng cách xuyên tạc nội dung bài viết, họ dám xui nhân dân là em viết bài gọi người dân là nhặng...là giòi, là sâu bọ, chó má ... chứ không phải gọi công an, gọi lãnh đạo đảng .

Thế là tất cả trăm con người nhâu nhâu vào .. đòi tát vỡ mặt em với đủ các ngôn từ, giọng điệu, chửi bới em không tiếc lờì, nào con đĩ chống đảng, nào đồ phản dân hại nước, nào bán nước, buôn dân, tham tiền, phản động, làm tay sai cho Đế Quốc Mỹ v.v và v.v . còn kinh khủng hơn cả lần đấu tố ngoài sân vận động, và lần đấu tố tại nhà, cách đó 2 tuần, sau khi em ra hàng Nét bị quần chúng nhân dân phát hiện ...

- Kết quả ra sao chị ?

- Kết quả dù cố tỏ ra kiềm chế, không hề dám mở miệng lên tiếng biện minh mà cả hai vợ chồng em đều bị đánh . Em phải nhận mấy cái tát lật mặt nổ đom đóm mắt của mấy gã lực điền trai tráng (thực chất là đầu gấu do công an thuê), còn ông xã bị đập cả thanh gỗ vào sau vai và lưng, còn bị túm tóc lôi từ trên giường xuống đất khi cố tình che chắn cho vợ, vì tội đã không dạy được vợ mà còn tiếp tay cho vợ lên mạng Intetrnet gửi bài cho phản động, nói xấu đảng và nhà nước .

- Họ có đập phá gì không ?

Họ lấy chùm chìa khoá xe máy, cả chục thằng đi nguyên giày trèo lên giường đòi hành hung em nên giường bị sập, cửa sổ bị chúng dùng gỗ đập nát phần kính, chớp . Phần cánh bằng gỗ bên ngòai hiện tại hở toang hoác, 2 cô con gái ngơ ngác, hoảng loạn ... tính mạng em đang ngàn cân treo sợi tóc .

- Kinh khủng qúa chị há

- Thực tình em không sợ gì cho mình cả, vì chấp nhận con đường mình đi là đang chịu tội thay cho cả dân tộc, hoặc xanh cỏ hoặc đỏ ngực . Trước khi hái được đoá hoa thắm dân chủ đầu tiên còn muôn vàn gai góc, phải trải đủ 81 kiếp nạn như đường Tăng đi Tây trúc lấy kinh, tất cả những điều ấy em đều chấp nhận cho riêng mình, nhưng hôm nay em tan nát cõi lòng vì cái gia đình nhỏ của mình bị lũ quạ mổ, diều hâu đập phá tan tành .

- Vâng, thật không biết nói gì hơn ngoài việc chia xẻ với chị và gia đình .

- Đêm qua đối với em thực sự là một cơn ác mộng, quằn quại như thân lau trong bão không sao ngủ nổi, khi nhìn vết thương rớm máu, sưng vù trên cơ thể chồng, bị đánh đau nên không nằm ngửa được mà chỉ còn cách nằm sấp, rồi mệt mỏi thiếp đi . Cháu lớn không có chỗ ngủ vì giường đã bị sập, phải nằm tạm xuống nền gạch đá hoa, cháu bé nằm cạnh bố, mẹ cũng trằn trọc vật vã không ngủ nổi, vừa thiếp đi thì ú ớ nói mê, đầy khiếp đảm .

- Trời đất xa tổ quốc 28 năm, tôi không thể nào hiểu nổi sự tàn ác, dã man của chế độ độc tài này . Chị nói tiếp đi chị

- Cứ tình trạng này không biết cơ thể em sẽ chịu đựng được bao nhiêu lâu ? Ở lại rõ ràng là không ở nổi, vì đất lành chim đỗ, đất ngỗ chim bay, nhưng sang Hà Nội phải tìm nhà, thuê nhà, trong điều kiện giá cả tăng vọt, đắt câm đắt ngầm, đã đành nhưng quan trọng nhất là công an đảng lại tìm đến đánh hơi, ngăn cản chủ nhà không được ký hợp đồng như đã làm với trường hợp của Phạm Hồng Sơn . Nếu có cơ may thuê được, thì vẫn là văn hoá đảng, nay hành, mai hành, kích động quần chúng . Muốn yên chỉ còn nước vào miền Nam hoặc lên núi ở ẩn một mình, không ai biết, ai hay mới mong không bị hành hạ, đấu tố .

- Thật không ngờ giữa thế kỷ 21, khoa học tiến như vũ bão rồi mà ở Việt Nam vẫn còn diễn ra trò đấu tố mà thực chất là vu khống, tố điêu

- Đây chính là cách bọn chúng đang áp dụng với em, anh ạ . bởi vì chính chúng đã từng tuyên bố: "Cần gì phải cho Trần Khải Thanh Thuỷ vào tù, thiếu gì cách để cho Trần Khải Thanh Thuỷ ở ngoài tù mà còn phải khổ sở hơn ở trong tù, vì trong tù còn có công an làm nhiệm vụ bảo vệ ... Cứ để cho Trần Khải Thanh Thuỷ biết thế nào là sức mạnh của Đảng, của nhân dân, của quần chúng v.v .

- Thành thật tôi không hiểu sao đảng cộng sản Việt Nam lại có thể ra tay với một người phụ nữ chân yếu tay mềm như vậy, văn hoá đảng để ở đâu ?

- Về mặt thể xác em là phụ nữ thật, nhưng về tư tưởng, lập trường, quan điểm, thì em luôn cùng chung chí hướng với các nhà dân chủ khác như chú Nguyễn Thanh Giang, anh Nguyễn Chính Kết, linh mục Nguyễn Văn Lý, anh Đỗ Nam Hải, Phạm Hồng sơn, luật sư Nguyễn Văn Đài v.v ... Thậm chí còn lợi thế hơn họ vì có váy ... để tốc lên mặt đảng, mượn giọng dân gian bắt đảng phải mặc quần đùi cho nhân cách mình, đừng cởi truồng về nhân cách mãi như thế, toàn dân Việt nam sẽ xấu hổ lắm...Chưa đủ còn dám nhập tâm tư tưởng của chi. Dương Thu Hương, coi lãnh đạo đảng như một lũ giòi, bọ, đẻ ra cả lũ nhặng xanh là đám công an dưới quyền để mượn thơ cu. Nguyễn Du mà viết:

Đầy nhà vang tiếng nhặng xanh . Rụng rời khung cửi tan tành gối mây ... thế là đảng dùng đòn hiểm để trấn áp, bắt em phải sợ ...

- Nếu được quyền nói với đảng một lời chị sẽ nói gì ? Vẫn là "đảng buông vạt váy tôi ra" chứ ?

- Không, không, tình trạng của em với đảng bây giờ không thể ôn hoà như thế, em như một cô gái mảnh mai bị cả bè lũ đảng đè ngửa ra ... cưỡng bức, kẻ giữ chân, người trói tay, người nhét giẻ vào miệng quyết bắt em phải câm miệng mới thôi .
Vì vậy em không thể bảo đảng buông vạt váy ra nữa mà chửi thẳng vào mặt đảng: - Mày là thằng khốn nạn, đểu giả nhất trên thế giới này . Chính mày làm tan nát ngôi nhà Việt Nam, bắt 3 triệu người phải xa xứ, tha hương, làm 850 nghìn người vùi xác nơi đáy biển, làm 78 trên tổng số 83 triệu người trong nước phải điêu đứng . Chính mày dâng đất, bán biển cho quan thầy Trung Hoa . Chính mày làm cho xã hội Việt Nam điêu tàn, tan nát, con cãi lại cha, trò chống đối thầy, người lương thiện ít hơn kẻ độc ác, gái ngoan ít hơn gái đĩ, điếm hoá đến cả trẻ thơ ...

- Vâng, dù như cá đang nằm trên thớt của đảng, chị vẫn quẫy rất mạnh, chị không sợ đảng mổ thịt moi gan ư ?

- Thời ấy của đảng qua rồi, cả thế giới chỉ còn 4 nước cộng sản, mà đảng cộng sản Việt Nam lại lưu manh nhất, làm sao qua mắt thế giới được ?

- Nghĩa là chị quyết một mất một còn với đảng .

- Vâng, đảng đang dùng hạ sách cuối cùng kích động quần chúng, mượn tay đầu gấu để thanh trừng em, nhưng dù phải chết, mà mở mắt cho nhiều người, trong đó có đám quần chúng mù quáng quanh mình, em sẵn sàng chết, quyết không để tương lai dân tộc rơi vào tay đảng mù .

- Dạ thưa chi. Thuy?, luôn có chúng tôi đứng bên chị, chị đừng sợ, đừng nản lòng, sẽ có những luật sư ở Anh quốc, Pháp, Mỹ ... lên tiếng giúp chị yêu cầu đảng cầm quyền phải dừng tay đàn áp, trả lại mọi sự tự do cho chị và gia đình nhỏ của chị...cái đích dân chủ đang gần kề, vững bước lên thưa chi. Thuỷ .

- Dạ . Em xin làm đúng lời dặn dò của anh, cũng là kinh nghiệm của cổ nhân đúc kết : Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh . Cái thời chân lý bặt tăm qua rồi ...

- Chào chị nghen chi. Thuy?, nhất định chúng tôi không để chị khổ đâu, cố gắng lên nghe chi. Thuỷ .

- Dạ ...


Đống Đa 28-10-2006

TRẦN KHẢI THANH THỦY

20 October 2006

Trò Chuyện Cuối Tuần

(Ghi lại cuộc trò chuyện cùng anh Tường Thắng - phóng viên trang web VNExodux)
Trần Khải Thanh Thuỷ

Phóng viên: - Hiện tại tình hình chị thế nào?

TKTT: - Cám ơn anh, cơ quan an ninh vẫn tiếp tục cho mời tôi lên để làm rõ một số vụ việc?

- Còn vụ việc gì nữa hả chị?



- À, việc vặt lá diệt hoa ấy mà, họ không muốn những người làm công việc vạch lá, tìm sâu như tôi tồn tại. Họ sợ tôi vạch được cả đám lá ra thì những con sâu làm rầu nồi canh đất nước như họ sẽ bị tòi ra. Một con sâu đủ để đổ đi cả nồi canh ngọt nữa là "Nồi canh" của Việt Nam do lãnh đạo Việt Nam chế biến, lúc nhúc những sâu là sâu, từ 15 con sâu trong bộ chính trị, tới 150 sâu uỷ viên trung ương, rồi các sâu đầu ngành, đầu thành, đầu tỉnh, sâu trắng, sâu đen, sâu xanh, sâu xám, sâu róm, bọ nẹt v.v... kinh lắm. Nếu thế giới nhìn thấy thì những con sâu bự này hết đường sống, vì sớm hay muộn cũng sẽ bị đập chết, di nát, đè bẹp, nên họ phải ra sức chặn việc làm của tôi lại, không cho tôi tiếp tục công việc vạch lá tìm sâu ấy nữa.



- Theo chị Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn bị bắt vì lý do gì?



- Vì dám nói và viết sự thật thôi. Cụ thể Nguyễn Vũ Bình viết bài: Việt Nam và con đường phục hưng đất nước, phân tích rất rõ sự lãnh đạo yếu kém, bảo thủ của đảng đẻ ra một lô những tiêu cực: -kinh tế bị đè nén, chính trị bị khủng hoảng, đạo đức xuống cấp, phân cách giàu nghèo tăng, sau đó là đơn xin thành lập đảng tự do dân chủ. Còn Lê Chí Quang thì viết bài: hãy cảnh giác với bắc triều... và Phạm Hồng Sơn thị dịch tài liệu: "thế nào là dân chủ trong web side của Mỹ.



- Nghĩa là chỉ nói sự thật phải không chị?



- Vâng, nhưng bản chất của những kẻ dối trá lại rất sợ sự thật. Để bịt miệng tiếng nói của cánh trí thức trẻ chúng đã đánh họ bằng những bài bản rất khốn nạn:



- Cụ thế là sao thưa chị?



- Thì đấy, điều 69 hiến pháp, điều 19 trong công ước quốc tế, điều 71, 73 v.v đều nói rõ công dân Việt Nam được hưởng những quyền gì, nhưng thực tế, họ lại bị bắt giam vô điều kiện. Cụ thể trường hợp Lê chí Quang bị bắt trên đường đến quán nét, bắt mà không hề thông báo cho mẹ đẻ hoặc người nhà biết, trong khi Quang lại đang uống thuốc chữa viêm cầu thận, làm cả nhà lo cuống lên, đặc biệt là mẹ đẻ của Quang suy sụp nặng nề, cho đến đúng 2 tuần sau mới nhận được thông báo qua bưu điện là Quang đang bị giam giữ tại trạm giam B14 Thanh Liệt. Sau đó tiến hành xử kín, xử chui, không cho ai vào, trừ mẹ đẻ. Đến mức mẹ Quang phải bảo: "Kể cả tôi chửa hoang nó cũng có bố chứ, tôi có tự đẻ ra nó được đâu mà sao không cho bố nó vào"?... Rồi gán tội làm gián điệp để kết tội 4 năm liền. Vâng, đấy chính là bài bản đê tiện khốn nạn của đảng cộng sản mà tôi tin khắp gầm cầu này, kể cả ở các nước châu Phi đói nghèo lạc hậu cũng không có được.



- Trở lại chuyện của chị, và chuyện của luật sư Lê thị Công Nhân, tại sao chị cũng nói thật, viết thật, và chị Nhân cũng là thành viên của đảng Thăng Tiến mà cả hai không bị bắt vậy?



- Vâng. tôi nghĩ ngoài lý do trong nước phong trào dân chủ phát triển mạnh hơn, còn một lý do chính khiến cả hai chúng tôi thoát khỏi nanh vuốt của cộng sản là tấm lòng của bà con Việt Kiều ở Hải ngoại. Bằng sức mạnh tinh thần thông qua những nỗi đau có thực mà đảng cộng sản đã gây cho họ và gia đình bao nhiêu năm qua, họ vừa đùm bọc che chắn, vừa la hét kêu gào bắt đảng cộng sản phải chùn tay trước tội ác, đặc biệt với một người cầm bút như tôi, am hiểu luật như Nhân. Vì thế chị em tôi ý thức rõ là mình đang mắc nợ bà con Việt Kiều rất nhiều, không chỉ về vật chất mà cả tinh thần. Bình thường công việc viết văn làm báo của tôi vốn đã như người làm xiếc trên dây, bây giờ dây vào đảng cộng sản càng nguy hiểm gấp bội phần, vì không phải làm xiếc trên sợi dây bình thường mà trên chính sợi dây thòng lọng của đảng nên bất cứ lúc nào đảng cũng có thể xiết chặt dây lại để tôi rơi tự do từ trên cao xuống vực thẳm của đảng, chết bất đắc kỳ tử, chết không kịp ngáp... Nhờ có 3 triệu bà con Việt kiều, 3 triệu cổ họng la lớn bắt đảng không được thít sợi dây lại, mà còn giơ 6 triệu cánh tay ra để đỡ khi tôi ngã... để tôi không bị rơi vào ngục tù, vực thẳm của Đảng.



- Vâng, theo Tường Thắng được biết thì cũng rất nhiều trường hợp được bà con giúp như thế nhưng không viết được nhiều như chị, hoặc không dám nói rõ như chị, thậm chí còn buông bút, tắt tiếng vì bị chính những người trong gia đình sợ hãi, ngăn cấm.



- Tôi chỉ nghĩ tôi không có quyền buông bút vào lúc này, nghĩa là không thể xuống mặt đất được mà còn phải tiếp tục chinh phục đỉnh cao trí tuệ, đỉnh cao nhân cách, không phải để biểu diễn cho mọi người xem, mà giúp bà con vạch mặt đảng cộng sản thối nát đê hèn, tham quyền cố vị, cam tâm đưa đất nước vào địa vị nhục nhã, đói nghèo này, đặc biệt là với một nửa đất nước là miền Nam ruột thịt.Chưa bao giờ tôi cảm thấy thương họ như lúc này, và cũng chưa bao giờ tôi hiểu rõ về họ như lúc này. Vẫn biết sau năm 1975 cộng sản vào, ngoài việc cướp bóc thả phanh, còn cố tình gieo rắc cho họ mầm mống của sự đói nghèo, tuyệt chủng. Sau giải phóng tưởng đất nước to đẹp đàng hoàng như thế nào, ai ngờ nhá bo bo, mỳ sợi, khoai hà, sái quai hàm. Đã tưởng "công lao" của đảng chỉ dừng lại ở chỗ: Kêu gọi toàn dân chiến đấu để "giải phóng miền Nam" và "phấn đấu cho đến ngày Nam Bắc nghèo như nhau". Ai ngờ đảng còn vào hùa với thần chết bóng đêm đẩy biết bao gia đình vào đường cùng không lối thoát. Là người của miền bắc xã hội chủ nghĩa, từng sống qua "đỉnh cao muôn trượng" mà cơm không đủ no, áo không đủ mặc, tôi tưởng tự tôi đã rút ra một chân lý sống cho mình và mọi người là: "Phàm ai sinh ra là người Việt Nam, sống dưới thời đảng trị thì đều chịu cảnh đói nghèo khổ sở đến chết, chỉ không ai dám chết vì đói nghèo, khổ sở mà thôi". Ai ngờ qua lời kể của hàng loạt người tôi mới kịp làm quen ở paltalk (diễn đàn đấu tranh dân chủ tự do cho Việt Nam) tôi mới biết là mình nhầm, nhầm một cách thảm hại, rất nhiều người không chịu nổi chế độ khắc nghiệt của cộng sản mà phải tử tự cả nhà. Có những gia đình, quá tin tưởng ở cách mạng, hân hoan đón chờ chính phủ mới về tiếp quản Sài gòn, nhất định không chịu di tản, cũng không cho vợ con đi. Kết quả, bản thân bị hù doạ về tinh thần, còn về vật chất thì bị bỏ đói, phải bán nhẵn mọi đồ đạc của cải, nhà cửa mà cũng không đủ tiền để độ nhật qua ngày, đành lũ lượt rủ nhau nhập... hộ khẩu Diêm Vương. Cả nhà uống thuốc ngủ, hoặc cả nhà chui vào xe ô tô, tẩm xăng chết. Có nhà chồng đi học tập cải tạo, vợ ở nhà một nách 3 đứa con, cực qúa không làm gì được để sống, cuối cùng tìm đến cái chết đột ngột để cắt đứt mọi sự ràng buộc, dan díu với đời, để lại 3 đứa con côi cút, mà ông ngoại - vốn là một đại tá cách mạng - tập kết từ 1954, không thèm nhìn mặt, chỉ vì: "ai cho tụi bây lấy chồng là sĩ quan cộng hoà, bây giờ cực ráng chịu". Vâng xã hội chủ nghĩa ở miền Nam khi ấy quả là địa ngục trần gian. Thể nào mà bà con bỏ đi vãn.



- Thưa chị, chị bắt đầu nhận thức được điều này từ khi nào?



- Thực tế tôi nhận thức được điều ấy vào năm 1986, khi tôi theo đoàn nhà văn của trường viết văn Nguyễn Du khoá 4 vào Sài Gòn. Trước đó, đầu năm 1976, mẹ tôi vào gặp bác cả và tha lôi ra không còn thiếu thứ gì, nghĩa không đủ sức mà tha lôi vì nhà bác tôi rất giàu, cả 6 anh đều tham gia quân đội Việt Nam cộng hoà, một anh tử trận, 5 anh là thiếu tá, đại tá, có xe công để đi. Chỉ vì muốn gặp mẹ và các em sau 21 năm trời bặt tin mà bác tôi ở lại... Thế mà năm 1986 tôi vào, hòn ngọc viễn đông đã tiêu điều xơ xác, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng cảnh nghèo, cái đói. Chị họ tôi, trước 1975 vốn là dược sĩ, chung tiền buôn thuốc tây với người bạn, trong nhà không thiếu thứ gì. Nào bếp gas, xe máy, điều hoà. Sữa uống thay nước, ngày ba bữa ăn hết sức đầy đủ sang trọng, thế mà khi cách mạng về. Hiệu thuốc bị đóng cửa, xe máy bán rẻ như cho vì không đủ tiền chạy xăng, gas cũng không có mà đốt, toalet hỏng không đủ tiền để sửa, sữa thì chẳng lấy đâu ra... trong khi điện cúp tối ngày. Bác cả tôi chạy đôn chạy đáo cũng không mua được thức ăn để đãi cháu. Cuối cùng phải vào tận công sở của cô con gái thứ 2, nhờ chị nói khó người nọ người kia, nhường cho một kg cá thu ướp lạnh theo tiêu chuẩn tem phiếu về để tiếp đãi cháu, phần bác chỉ ngồi ăn rau muống chấm nước mắm chanh. Sau bữa ăn, anh tôi bày tỏ: Thực chất ngày 30-4 bọn anh coi là ngày quốc hận, ngày mất nước, ngày miền Nam bị cưỡng chiếm... Thú thực, đang là giáo viên, bị nhồi nhét quan điểm tư tưởng của đảng, tôi không tin những lời anh nói, nhưng nhìn nét mặt đau buồn khổ sở của anh thì tôi tin, và đặc biệt đau lòng khi chị tôi kể chuyện 8 lần vượt biên mà không thoát. Cứ bị bắt, lại phải ngồi tù, ra khỏi tù lại lo lắng thu xếp bán đổ bán tháo mọi thứ trong nhà đi để dồn tiền đi tiếp. Nghèo đến mức, mỗi người chỉ còn vài ba bộ quần áo trên người và cả nhà xót lại một tấm chăn sờn rách. Khi cháu và em đến lại phải nhường.



- Thưa chị, chị tham gia viết báo hải ngoại từ khi nào?



(Ghi lại cuộc trò chuyện cùng anh Tường Thắng - phóng viên trang web VNExodux)
Trần Khải Thanh Thuỷ

Phóng viên: - Hiện tại tình hình chị thế nào?

TKTT: - Cám ơn anh, cơ quan an ninh vẫn tiếp tục cho mời tôi lên để làm rõ một số vụ việc?
- Còn vụ việc gì nữa hả chị?

- À, việc vặt lá diệt hoa ấy mà, họ không muốn những người làm công việc vạch lá, tìm sâu như tôi tồn tại. Họ sợ tôi vạch được cả đám lá ra thì những con sâu làm rầu nồi canh đất nước như họ sẽ bị tòi ra. Một con sâu đủ để đổ đi cả nồi canh ngọt nữa là "Nồi canh" của Việt Nam do lãnh đạo Việt Nam chế biến, lúc nhúc những sâu là sâu, từ 15 con sâu trong bộ chính trị, tới 150 sâu uỷ viên trung ương, rồi các sâu đầu ngành, đầu thành, đầu tỉnh, sâu trắng, sâu đen, sâu xanh, sâu xám, sâu róm, bọ nẹt v.v... kinh lắm. Nếu thế giới nhìn thấy thì những con sâu bự này hết đường sống, vì sớm hay muộn cũng sẽ bị đập chết, di nát, đè bẹp, nên họ phải ra sức chặn việc làm của tôi lại, không cho tôi tiếp tục công việc vạch lá tìm sâu ấy nữa.

- Theo chị Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn bị bắt vì lý do gì?

- Vì dám nói và viết sự thật thôi. Cụ thể Nguyễn Vũ Bình viết bài: Việt Nam và con đường phục hưng đất nước, phân tích rất rõ sự lãnh đạo yếu kém, bảo thủ của đảng đẻ ra một lô những tiêu cực: -kinh tế bị đè nén, chính trị bị khủng hoảng, đạo đức xuống cấp, phân cách giàu nghèo tăng, sau đó là đơn xin thành lập đảng tự do dân chủ. Còn Lê Chí Quang thì viết bài: hãy cảnh giác với bắc triều... và Phạm Hồng Sơn thị dịch tài liệu: "thế nào là dân chủ trong web side của Mỹ.

- Nghĩa là chỉ nói sự thật phải không chị?

- Vâng, nhưng bản chất của những kẻ dối trá lại rất sợ sự thật. Để bịt miệng tiếng nói của cánh trí thức trẻ chúng đã đánh họ bằng những bài bản rất khốn nạn:

- Cụ thế là sao thưa chị?

- Thì đấy, điều 69 hiến pháp, điều 19 trong công ước quốc tế, điều 71, 73 v.v đều nói rõ công dân Việt Nam được hưởng những quyền gì, nhưng thực tế, họ lại bị bắt giam vô điều kiện. Cụ thể trường hợp Lê chí Quang bị bắt trên đường đến quán nét, bắt mà không hề thông báo cho mẹ đẻ hoặc người nhà biết, trong khi Quang lại đang uống thuốc chữa viêm cầu thận, làm cả nhà lo cuống lên, đặc biệt là mẹ đẻ của Quang suy sụp nặng nề, cho đến đúng 2 tuần sau mới nhận được thông báo qua bưu điện là Quang đang bị giam giữ tại trạm giam B14 Thanh Liệt. Sau đó tiến hành xử kín, xử chui, không cho ai vào, trừ mẹ đẻ. Đến mức mẹ Quang phải bảo: "Kể cả tôi chửa hoang nó cũng có bố chứ, tôi có tự đẻ ra nó được đâu mà sao không cho bố nó vào"?... Rồi gán tội làm gián điệp để kết tội 4 năm liền. Vâng, đấy chính là bài bản đê tiện khốn nạn của đảng cộng sản mà tôi tin khắp gầm cầu này, kể cả ở các nước châu Phi đói nghèo lạc hậu cũng không có được.

- Trở lại chuyện của chị, và chuyện của luật sư Lê thị Công Nhân, tại sao chị cũng nói thật, viết thật, và chị Nhân cũng là thành viên của đảng Thăng Tiến mà cả hai không bị bắt vậy?

- Vâng. tôi nghĩ ngoài lý do trong nước phong trào dân chủ phát triển mạnh hơn, còn một lý do chính khiến cả hai chúng tôi thoát khỏi nanh vuốt của cộng sản là tấm lòng của bà con Việt Kiều ở Hải ngoại. Bằng sức mạnh tinh thần thông qua những nỗi đau có thực mà đảng cộng sản đã gây cho họ và gia đình bao nhiêu năm qua, họ vừa đùm bọc che chắn, vừa la hét kêu gào bắt đảng cộng sản phải chùn tay trước tội ác, đặc biệt với một người cầm bút như tôi, am hiểu luật như Nhân. Vì thế chị em tôi ý thức rõ là mình đang mắc nợ bà con Việt Kiều rất nhiều, không chỉ về vật chất mà cả tinh thần. Bình thường công việc viết văn làm báo của tôi vốn đã như người làm xiếc trên dây, bây giờ dây vào đảng cộng sản càng nguy hiểm gấp bội phần, vì không phải làm xiếc trên sợi dây bình thường mà trên chính sợi dây thòng lọng của đảng nên bất cứ lúc nào đảng cũng có thể xiết chặt dây lại để tôi rơi tự do từ trên cao xuống vực thẳm của đảng, chết bất đắc kỳ tử, chết không kịp ngáp... Nhờ có 3 triệu bà con Việt kiều, 3 triệu cổ họng la lớn bắt đảng không được thít sợi dây lại, mà còn giơ 6 triệu cánh tay ra để đỡ khi tôi ngã... để tôi không bị rơi vào ngục tù, vực thẳm của Đảng.

- Vâng, theo Tường Thắng được biết thì cũng rất nhiều trường hợp được bà con giúp như thế nhưng không viết được nhiều như chị, hoặc không dám nói rõ như chị, thậm chí còn buông bút, tắt tiếng vì bị chính những người trong gia đình sợ hãi, ngăn cấm.

- Tôi chỉ nghĩ tôi không có quyền buông bút vào lúc này, nghĩa là không thể xuống mặt đất được mà còn phải tiếp tục chinh phục đỉnh cao trí tuệ, đỉnh cao nhân cách, không phải để biểu diễn cho mọi người xem, mà giúp bà con vạch mặt đảng cộng sản thối nát đê hèn, tham quyền cố vị, cam tâm đưa đất nước vào địa vị nhục nhã, đói nghèo này, đặc biệt là với một nửa đất nước là miền Nam ruột thịt.Chưa bao giờ tôi cảm thấy thương họ như lúc này, và cũng chưa bao giờ tôi hiểu rõ về họ như lúc này. Vẫn biết sau năm 1975 cộng sản vào, ngoài việc cướp bóc thả phanh, còn cố tình gieo rắc cho họ mầm mống của sự đói nghèo, tuyệt chủng. Sau giải phóng tưởng đất nước to đẹp đàng hoàng như thế nào, ai ngờ nhá bo bo, mỳ sợi, khoai hà, sái quai hàm. Đã tưởng "công lao" của đảng chỉ dừng lại ở chỗ: Kêu gọi toàn dân chiến đấu để "giải phóng miền Nam" và "phấn đấu cho đến ngày Nam Bắc nghèo như nhau". Ai ngờ đảng còn vào hùa với thần chết bóng đêm đẩy biết bao gia đình vào đường cùng không lối thoát. Là người của miền bắc xã hội chủ nghĩa, từng sống qua "đỉnh cao muôn trượng" mà cơm không đủ no, áo không đủ mặc, tôi tưởng tự tôi đã rút ra một chân lý sống cho mình và mọi người là: "Phàm ai sinh ra là người Việt Nam, sống dưới thời đảng trị thì đều chịu cảnh đói nghèo khổ sở đến chết, chỉ không ai dám chết vì đói nghèo, khổ sở mà thôi". Ai ngờ qua lời kể của hàng loạt người tôi mới kịp làm quen ở paltalk (diễn đàn đấu tranh dân chủ tự do cho Việt Nam) tôi mới biết là mình nhầm, nhầm một cách thảm hại, rất nhiều người không chịu nổi chế độ khắc nghiệt của cộng sản mà phải tử tự cả nhà. Có những gia đình, quá tin tưởng ở cách mạng, hân hoan đón chờ chính phủ mới về tiếp quản Sài gòn, nhất định không chịu di tản, cũng không cho vợ con đi. Kết quả, bản thân bị hù doạ về tinh thần, còn về vật chất thì bị bỏ đói, phải bán nhẵn mọi đồ đạc của cải, nhà cửa mà cũng không đủ tiền để độ nhật qua ngày, đành lũ lượt rủ nhau nhập... hộ khẩu Diêm Vương. Cả nhà uống thuốc ngủ, hoặc cả nhà chui vào xe ô tô, tẩm xăng chết. Có nhà chồng đi học tập cải tạo, vợ ở nhà một nách 3 đứa con, cực qúa không làm gì được để sống, cuối cùng tìm đến cái chết đột ngột để cắt đứt mọi sự ràng buộc, dan díu với đời, để lại 3 đứa con côi cút, mà ông ngoại - vốn là một đại tá cách mạng - tập kết từ 1954, không thèm nhìn mặt, chỉ vì: "ai cho tụi bây lấy chồng là sĩ quan cộng hoà, bây giờ cực ráng chịu". Vâng xã hội chủ nghĩa ở miền Nam khi ấy quả là địa ngục trần gian. Thể nào mà bà con bỏ đi vãn.

- Thưa chị, chị bắt đầu nhận thức được điều này từ khi nào?

- Thực tế tôi nhận thức được điều ấy vào năm 1986, khi tôi theo đoàn nhà văn của trường viết văn Nguyễn Du khoá 4 vào Sài Gòn. Trước đó, đầu năm 1976, mẹ tôi vào gặp bác cả và tha lôi ra không còn thiếu thứ gì, nghĩa không đủ sức mà tha lôi vì nhà bác tôi rất giàu, cả 6 anh đều tham gia quân đội Việt Nam cộng hoà, một anh tử trận, 5 anh là thiếu tá, đại tá, có xe công để đi. Chỉ vì muốn gặp mẹ và các em sau 21 năm trời bặt tin mà bác tôi ở lại... Thế mà năm 1986 tôi vào, hòn ngọc viễn đông đã tiêu điều xơ xác, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng cảnh nghèo, cái đói. Chị họ tôi, trước 1975 vốn là dược sĩ, chung tiền buôn thuốc tây với người bạn, trong nhà không thiếu thứ gì. Nào bếp gas, xe máy, điều hoà. Sữa uống thay nước, ngày ba bữa ăn hết sức đầy đủ sang trọng, thế mà khi cách mạng về. Hiệu thuốc bị đóng cửa, xe máy bán rẻ như cho vì không đủ tiền chạy xăng, gas cũng không có mà đốt, toalet hỏng không đủ tiền để sửa, sữa thì chẳng lấy đâu ra... trong khi điện cúp tối ngày. Bác cả tôi chạy đôn chạy đáo cũng không mua được thức ăn để đãi cháu. Cuối cùng phải vào tận công sở của cô con gái thứ 2, nhờ chị nói khó người nọ người kia, nhường cho một kg cá thu ướp lạnh theo tiêu chuẩn tem phiếu về để tiếp đãi cháu, phần bác chỉ ngồi ăn rau muống chấm nước mắm chanh. Sau bữa ăn, anh tôi bày tỏ: Thực chất ngày 30-4 bọn anh coi là ngày quốc hận, ngày mất nước, ngày miền Nam bị cưỡng chiếm... Thú thực, đang là giáo viên, bị nhồi nhét quan điểm tư tưởng của đảng, tôi không tin những lời anh nói, nhưng nhìn nét mặt đau buồn khổ sở của anh thì tôi tin, và đặc biệt đau lòng khi chị tôi kể chuyện 8 lần vượt biên mà không thoát. Cứ bị bắt, lại phải ngồi tù, ra khỏi tù lại lo lắng thu xếp bán đổ bán tháo mọi thứ trong nhà đi để dồn tiền đi tiếp. Nghèo đến mức, mỗi người chỉ còn vài ba bộ quần áo trên người và cả nhà xót lại một tấm chăn sờn rách. Khi cháu và em đến lại phải nhường.

- Thưa chị, chị tham gia viết báo hải ngoại từ khi nào?

- Thực tình tôi thất nghiệp từ năm 2000. Giữ trang thư Hà Nội cho tờ Viet tide từ cuối 2002, nhưng còn non nớt ấu trĩ về chính trị lắm, vì ít nhiều cũng bị quan điểm đối lập của đảng đầu độc, nên sau một năm toà soạn buộc phải huỷ bỏ trang thư này, chỉ còn lại thư Sài Gòn...còn tôi thì tiếp tục thất nghiệp. Lại suốt ngày chúi đầu vào viết sách, in sách và bán sách, cháo loãng cầm hơi, nợ nần ngập cổ, cho đến khi được chú Nguyễn Thanh Giang giới thiệu với anh Nguyễn Hải ở San-Jose Mỹ... Ngay sau đó tôi thực sự bừng tỉnh sau vụ tự thiêu của chị Phạm thị Trung Thu (tháng 10-2005) rồi tận mắt chứng kiến nỗi khổ của người dân oan tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng nên bập vào viết, viết với tất cả nỗi căm phẫn đau xót của mình trước những cảnh đời cơ cực ở Việt Nam, cơ cực hơn cả thời phong kiến, đế quốc mà không một cây bút nào- dù tài giỏi đến đâu cũng không thể chuyển tải nổi.

- Nếu cộng đồng hải ngoại có ý quyên góp cho chị sang Mỹ khoảng 1, 2 tuần chị có đi được không?

- Không phải tôi không đi được mà không được đi. Thứ nhất tôi nghĩ mình chưa làm gì được cho bà con mà được hưởng đặc quyền đặc lợi ấy, chỉ là có chút chữ nghĩa do bố mẹ thắt lưng buộc bụng cho tôi ăn học mà có được, và tấm lòng can đảm, dám nói thẳng, nói thật mà thôi. So với 25 năm tôi cống hiến cho cộng sản, thì một năm qua tôi đâu đã làm được gì?

- Thứ 2, dù thế nào thì cái chính đảng thối nát này không đủ can đảm cho tôi đi đâu, chính trong các cuộc thẩm tra họ đã bảo thẳng rồi: "Nếu chị thích định cư ở Mỹ hoặc bất cứ nước nào chúng tôi sẽ để chị đi vĩnh viễn, còn đi vài tuần hoặc một tháng để chửi lại 'tổ quốc' như ông Hoàng Minh Chính thì đừng mơ"'.

- Tường Thắng nghĩ là chính phủ Việt Nam có ký với các chính phủ Pháp,Anh, Mỹ cũng như tất cả các nước trên thế giới về chuyện các công dân Việt Nam được quyền xuất cảnh chứ.

- Thì nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam này cực kỳ đểu giả mà, ký thì vẫn cứ, nhưng bóp được cứ bóp... hai ví dụ cụ thể gần đây nhất là luật sư Nguyễn văn Đài và luật sư Lê thị Công Nhân đấy thôi

- Vâng, cám ơn chị, xin hỏi chị một câu cuối cùng, tình hình sức khoẻ chị ra sao rồi?

-Vâng, xin cám ơn anh, cũng ổn hơn một chút rồi anh ạ. Suốt cả tháng 8, sau khi bị Phạm thị Lộc bán đứng, bị cơ quan an ninh theo dõi, đeo bám 24/24 tiếng rồi bệnh tật ho hắng, uống qúa nhiều kháng sinh, tôi bị sụt liền 5 ký, từ to béo phốp pháp như bà chủ cửa hàng vàng thành eo co, xanh xám như bà chủ... cửa hàng bạc, từ Trương Mỹ Heo thành Trần... khỉ Thanh Thuỷ luôn, vì bệnh tiểu đường biến chứng mà tim đập nhanh, phổi bị nghi là nhiễm lao, gan chứa qúa nhiều độc tố, vài ngày lại mẩn đỏ hết cả bề mặt da, ngứa ngáy khó chịu vô cùng, đầu đau nhức, mệt mỏi... Giờ bão đen qua rồi chỉ còn bão rớt. Từ hôm thuê bình ô xy về để thở, rồi thuốc thang, chủ yếu là được giao lưu với cánh anh em dân chủ trong nước và cộng đồng Hải ngoại (thông qua các ý kiến đóng góp qua các bài viết hoặc gửi qua hòm thư, trò chuyện qua điện thoại) mà tim giảm được hẳn 20 nhip. Từ 111 nhịp/ phút còn 81 nhịp, phổi cũng đỡ cảm nhiễm, thương tổn vì ho hắng bớt dần, có thể "ngửi hơi chồng" như bình thường, không phải nằm nghiêng trên ghế theo kiểu nửa nằm nửa ngồi nữa...Vui nhất là hôm nay bắt đầu được làm việc bằng vi tính rồi anh ạ, chính số tiền 300 Mỹ kim mà nhóm "Lập trường chung" từ Mỹ gửi qua anh đó. Đúng là cầu được ước thấy. Nếu không vì chuyện tuần sau vẫn phải lên đồn trình diện, cãi cọ, ngày ngày chứng kiến cảnh cơ quan an ninh cho người canh gác từ cổng đến ngõ... thì vui... hết ốm, hết bệnh luôn...

- Vâng, dù sao cũng xin mừng với chị... giờ, cuộc nói chuyện đã dài, Tường Thắng cúp điện thoại nghen.

- Vâng xin cám ơn anh, hẹn gặp lại sau.

Hà Nội, 10-2006
TKTT (Lược thuật)

18 October 2006

Hà Nội có một quan ôn

Trần Khải Thanh Thuỷ

Xưa nay người Việt vẫn quen với phép xử thế thông thường, sau khi tung hê hồ thỉ là về nhà ở ẩn, vui thú điền viên, cùng vợ chăm nom con cháu, đuổi gà, bắt sâu, trồng cây cảnh, làm thơ... chẳng ai dại dột đăng đàn, diễn thuyết để nói về công lao, thành tích của mình, cho dù có công tày trời đi nữa; Khôn ngoan cất kỹ trong lòng, cùng lắm là viết hồi ký, làm thơ tức cảnh, theo kiểu "ý tại ngôn ngoại" tự mình biết với mình mà thôi...

Vậy mà vừa qua ở Hà Nội đã xảy ra một chuyện động trời, một quan đại thần ngồi chót vót ở thượng tầng Hà Nội từ đầu thập kỷ 90, sau khi hạ cánh, đã cho đăng báo ca ngợi công đức và kể lể thành tích của mình suốt 10 năm trị vì. Nào là: Tôi tài giỏi, tôi liêm khiết, tôi trung thực, tôi thẳng thắn, tôi từ hai bàn tay trắng làm nên, tôi được dân tin, lãnh đạo yêu mến, tôi tư duy đúng, nhờ tôi mà bộ mặt Hà Nội thay đổi một trời một vực so với trước kia... v v. và v.v. Nghiã là chẳng một lời hàm ơn công sức tiền nhiệm, cũng chẳng một lời khen cấp trên, cấp dưới, đồng sự, càng không có lời nào tỏ lòng với mồ hôi, nước mắt của muôn dân bách tính đô thành. Suốt hai trang báo khổ rộng hơn 5.000 từ, chỉ dặt có "tôi" và "tôi".

Trước tiên để chứng minh mình là người tài giỏi, tư duy đúng, ông ta - cựu chủ tịch Hoàng văn Nghiên nói với cánh nhà báo: - Đời tôi có mấy giai đoạn, thứ nhất là người lính, thứ hai là nhà giáo và thứ 3 là nhà khoa học, sau đó là nhà doanh nghiệp rồi quản lý nhà nước. Khi tôi làm doanh nghiệp, một miếng đất cắm dùi không có, phải lấy quán nước làm trụ sở, phương tiện chỉ có chiếc xe đạp rách, vậy mà sau mười năm, tổng vốn tôi có khoảng 500 triệu USD. Con đường của tôi đang thênh thang trên cả nước và quốc tế nên chả bao giờ tôi nghĩ đến việc rời bỏ nó, nhưng năm 1994, nhà nước bảo sang làm quản lý thì phải sang thôi...

Từ nhà giáo, chân ướt, chân ráo sang làm chủ doanh nghiệp, đầu óc trắng tinh về quản lý, tiền tệ, kinh tế thị trường mà sau 10 năm có trong tay 500 triệu Mỹ kim, quả là không nhỏ. Nếu không buôn gian, bán lận, nhập nhèm chuyện đất cát nhà xưởng, ăn chặn tiền của công nhân, chiếm đoạt tiền tài trợ, đầu tư của nước ngoài... làm sao có thể giàu nhanh thế được, dù có tài giỏi đến mấy chăng nữa? Có lẽ "Thăng Long danh giá nhất ông này", nên lãnh đạo nhà nước phải vội vàng bảo ông sang điều khiển, dẫn dắt để Hà Nội vươn lên tầm cao mới, khi ông chưa hề qua cấp phó lấy kinh nghiệm như nhiều người khác, còn người dân Hà Nội thì rỉ tai nhau:

Phúc đức gì mày, bố đĩ Nghiên
Hao tiền trong nước lại nước ngoài...

Vậy mà, nhằm khẳng định công lao: - Sau 10 năm đã làm cho Hà Nội nhảy vọt, trở nên đô hội một trời một vực so với trước. Ông nói:
- Năm 1994, Hà Nội vẫn hết sức nhỏ bé, chật hẹp. Phố nhỏ, nhà thấp, đến mức lãnh đạo phải bỏ ra tiền tỷ để biến Xuân Hoà, Xuân Mai thành Hà Nội thứ hai, nào xây trường học, nhà máy, nhà ở... nhưng đều bỏ hoang vì không ai chịu lên ở. Còn tôi, đi bước ngắn mà chắc ăn hơn, hãy ra Xuân La, Xuân Đỉnh đã, các cụ hai xuân mình cũng hai xuân mà xuân mình gần hơn nên thắng to. Bên cạnh việc mở rộng, còn đầu tư xây dựng hàng loạt nhà hàng, khách sạn như Daewoo, Mêlia, Hilton, Bảo Sơn, đô thị Ciputra v.v.

Sợ phóng viên không ghi đủ những lời ông nói, không ý thức đủ những việc ông làm, cựu chủ tịch Hoàng văn Nghiên nói tiếp:
- Nhờ tư duy đúng, tôi đã làm được những điều mà người trước chưa làm được, đó là đúc đê bê tông cho sông hồng... Lúc đầu tôi tự hỏi: - Sông Hồng là tài sản quý giá, sao năm nào cũng trở thành ngáo ộp doạ người? Làm thế nào để tạo được thành phố hai bên sông? Đưa Sông Hồng vào giữa lòng Hà Nội, biến nó thành tài sản riêng của Hà Nội?
Hỏi rồi tự trả lời, cuối cùng tôi quyết định: - Phải giải quyết ngay con đê, đơn giản nhất là kè lại như bê tông, rồi làm đường đi, khiến đê vừa vững chãi, vừa trở thành đường rộng... Thế mà bao nhiêu điện thoại, thư chửi bới, nào là phá đê, phá những con rồng đất hàng nghìn năm, nào là đê pháp luật, không phải đê bình thường. Quả thực, tôi không dám vác mặt ra đê để khởi công, vì sợ bị chửi, bị những kẻ thiếu hiểu biết quấy rối, ném đá vào mình, nhưng đã xác định được đó là việc đúng thì cứ phải làm đã, sau này hậu thế sẽ ghi công. Cả khách sạn Daewoo cũng vậy, 34 bài báo từ trung ương đến địa phương đánh tới tấp, nhưng làm xong ai cũng thấy đây là công trình đẹp nhất Hà Nội, lại hàng loạt các nhà báo viết bài khen tới tấp.

Về sự thẳng thắn, liêm chính ông khẳng định:
- Hiện tôi vẫn ở căn hộ do nhà nước cấp, không mua thêm toà nhà hoặc biệt thự nào. Cách đây hơn 10 năm (Tết 1995) khi đó tôi vừa nhận chức, các cơ sở trực thuộc thành phố biếu tôi hơn một tỷ, tôi nộp vào ngân sách nhà nước hết, quyết không tiêu một xu nào vì đó là mô hôi, công sức của dân, có phải nước sông đâu?
Đề cập đến một loạt sai phạm của Hà Nội từ "vụ Thuỷ cung Thăng Long, Làng kiến trúc, dự án đường Trần Khát Trân" - đều là những dự án bê bối đa diện và điển hình, vi phạm pháp luật nghiêm trọng ở Hà Nội, khởi đầu từ giữa thập kỷ 90 khi ấy, trong lúc ông nhậm chức, ông trả lời tỉnh queo:
- Tôi chẳng có tẹo lỗi nào, bởi vì những quy định của chúng tôi khác xa với quy định của nhà nước, ví như khi chính phủ ra nghị định 22 thì tôi thấy sai ơi là sai, mình phải tự tìm cách mà vận hành lấy, thấy việc đúng thì làm, nếu chẻ ra chưa có luật phải tự xây dựng luật, cho đến khi xã hội công nhận... Tất nhiên có những vụ án mình không đồng ý với sự lèo lá của nó, mình đã phản đối, đã báo cáo lên cấp trên mà không được chấp nhận, người ta vẫn thích đi cửa tiền, cửa hậu, cho đến khi chính phủ ký rồi thì mình đành phải thực hiện thôi.

Khi phóng viên nóng mắt đặt câu hỏi:
- Sau mười năm làm chủ tịch, thành phố vẫn đang cọ quậy tìm hướng đi, diện mạo vô cùng lem nhem, hệ thống cấp thoát nước quá tồi tệ, hễ mưa là ngập, đường chật, ô nhiễm môi trường nặng,quy hoạch không đồng bộ v.v ông cảm nhận thế nào mà lại cho rằng mình chỉ có công mà không có tội?
Ông phủ nhận tắp lự:
- Đổi mới của chúng ta đến giờ chưa đầy 20 năm, và chỉ thật sự phát triển từ 1991, như vậy mới khoảng15 năm. Từng ấy thời gian mà làm được chừng ấy công việc, đời sống so với trước đã là một trời một vực, tôi nghĩ đòi hỏi tất cả là không thực tế, không nên đưa bánh vẽ cho dân ăn mà phải cho dân thấy đường đi và triển vọng của thành phố ra sao.

Phóng viên đặt câu hỏi cuối cùng:
- Năm 1994 vừa lên làm chủ tịch ông đã từng phát biểu: Tôi nghĩ một đất nước mà lãnh đạo cùng ngồi lên đầu nhau và ngồi lên đầu dân để hành lẫn nhau và hành dân thì chẳng bao giờ khá lên được. Chính câu nói này nhà báo Trần thiên Nhiên đã ghi được và cho phát lên đài phát thanh, cho đến khi bị cấm. Vậy sau mười năm làm chủ tịch, ông nghĩ gì về câu nói này và tự đánh giá cái được nhất ở ông là gì?
Ông ngớ ra một lúc như để định thần rồi vội vàng đánh trống lảng:
- Có thể lúc chân ướt chân ráo tôi chưa có thói quen của người làm chính trị mà chỉ thuần tuý thói quen của người làm doanh nghiệp, còn 10 năm làm chủ tịch thành phố Hà Nội, tôi nghĩ cái được nhất của tôi là được dân mến yêu.

Làm quan thời nay mà được chúng sinh mến yêu, quả là độc đáo đại thần? ở Việt Nam, dân bị mị nhiều rồi, sao có thể nhìn ông ở góc độ ngưỡng mộ và đáng kính như vậy được - dù ông đã bẻm mép, lớn tiếng: Mị dân thì tôi được gì? Song cái xe đời mới ông đi, biệt thự ông ở rộng cả vài trăm mét tại số nhà 12 phố Nguyễn Chế Nghĩa, rồi những bữa picnic ngoài trời của đại gia đình ông chỉ vẻn vẹn 14 người mà tiêu mất 2000 USD do người phục vụ xót ruột, xót của rỉ tai nói lại với gia đình người thân, và lọt đến tai mọi người dân Hà Nội... Liệu đấy có phải sự mị hay không, lợi cho dân hay lợi cho ông?

Đời sống của người Hà Nội nói riêng và người dân Việt Nam nói chung so với thời bao cấp có dễ thở ít nhiều, nhưng người làm nên đổi mới, hoàn toàn không phải là các ông lớn. Một sai lầm của lãnh đạo, cả dân tộc phải trả giá bằng bao nhiêu năm, người Việt Nam cần cù, hiếu học, vậy mà luôn phải trả giá vì những sai lầm liên tiếp có hệ thống của lãnh đạo. 20 năm - một khoảnh khắc lịch sử nhưng cũng là quãng thời gian quý báu để làm nên cú nhảy vọt về kinh tế, văn hoá... Điều mà Bắc Kinh, Seoul, Tô-ki-ô, Băng cốc đã làm được, thì Hà Nội vẫn đang sa chân vào vũng lày dốt nát, đói kém, ô nhiễm môi trường do chính các lãnh đạo độc tài của Việt nam gây nên... Thế mà ông quan đầu thành của một thời này lại cho rằng mình có công lớn, làm cho bộ mặt Hà Nội đổi thay một trời một vực so với 10 năm trước? Quả là lật lọng.

Nếu xét về góc độ văn hoá, Hà Nội trước thập kỷ 90 không có nhiều xe máy và xe hơi như bây giờ, nhưng người Hà Nội luôn tự hào về thủ đô nghìn năm văn vật, vì vậy rất đông người Hà Nội có thái độ "kém thực dụng và phi kinh tế" với những thứ to tát mang tính tiền bạc, lãi lời như đê bê tông sông hồng, khách sạn Daewoo, nhà hàng hàm cá mập, khách sạn Mêlia, Hilton, Bảo Sơn, đô thị Ciputra v.v vì những nơi ấy, cả đời họ chả bao giờ được đặt chân đến. Hơn nữa chỉ có văn hoá mới cắt nghiã được vì sao người Hà Nội lại coi vườn đào Nhật Tân quý giá gấp bội so với cả đống biệt thự đờ luých của Ciputra... Cũng chính vì tình yêu Hà Nội mà suốt hai thập niên qua, người dân đã đòi hỏi chính quyền thành phố phải chắt ra chút xíu trong quỹ khổng lồ "đất vàng đất bạc, đất đô la" để xây bảo tàng Hà Nội, một công trình mà khối quý ông trưởng giả cho là chẳng đáng giá gì, mà bản thân ông Hoàng văn Nghiên cũng cho như thế. Chính vì thế mà đến giờ phút này, 18 nghìn hiện vật lịch sử Thăng Long Hà Nội (gồm cả bảo vật quốc gia) phải vạ vật ở nhờ khắp chốn, cùng nơi, bị nhét vào bao tải, túi cói trong gian nhà cấp bốn, hoặc phơi gió phơi sương giữa trời mà ngài chủ tịch suốt 10 năm đương quyền với vốn liếng 500 triệu USD cố tình lãnh đạm bỏ qua. Chưa kể những tệ nạn tiêu cực ngoài đường phố, trong trường học, bệnh viện bời bời phát sinh với tốc độ chóng mặt?

Một người như thế dám nói rằng "dân mến yêu tôi", rồi đưa ra lời khuyên cho người kế nhiệm mình: "Hãy để lại lòng tin cho dân" quả là sự lạc quan cách mạng? Lạc quan như chính các quan thầy của đảng cộng sản bây giờ. Cướp bóc trắng trợn mọi quyền lợi vật chất tinh thần của dân nhưng hễ mở miệng ra là tuyên bố: cho dân và vì dân.

Chả thế mà vào những ngày Hà Nội rập rình chuẩn bị 52 năm ngày giải phóng thủ đô, ngài cựu chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã đệ đơn xin mua đứt căn nhà số 12 Nguyễn Chế Nghĩa với giá rẻ như cho. Trong khi ông đã được cấp một căn hộ rộng lớn tương đương cấp bộ trưởng ở khu vực Đại học Bách Khoa, và bao nhiêu nhà nổi nhà chìm do con cái đứng tên khác rồi.

Ngôi nha? này trước 2002 thuộc sở hữu của tha?nh phố, nên khi lên làm chủ tịch UBND, với lý do khó khăn về chỗ ở ông đã ngang nhiên "mượn", lẽ ra sau khi thôi giữ chức chủ tịch, ông Nghiên phải trả lại ngôi nhà này để chính phủ làm trụ sở chăm lo cho người dân trong thành phố, song ông không những cố tình sự dụng mà còn đòi mua đứt, với cơ sở pháp lý la? Nghị định 61/CP ra ngày 5/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở do ông VõVăn Kiệt, lúc ấy là thủ tướng ký, bắt UBND Thành Phố Ha? Nội phải gửi công văn tới Sở Nha? đất Hà Nội đề nghị ba?n nha? công cho ông. Trong khi biệt thự rộng hàng trăm mét vuông xây từ thời, trị gia? lên tới cả tỷ đô la. Thì ông xin mua với giá rẻ như cho, để cho công ty nước ngoài thuê lại với giá 5000USD/ tháng.

Bởi tất cả các lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam, các tân chủ tịch thành, tỉnh, huyện quận, phường, xó đều để lại "lòng tin cho dân" bằng cách "công một, tội chín" như thế này, làm gì Việt Nam chẳng chịu bao nhiêu quốc nạn lẫn quốc nhục? Và câu ca của người dân Việt Nam còn vang vọng khắp phố phường nẻo đường, ngõ ngách của người Hà Nội: Giàu như Phú, lú như Trọng, lật lọng như Nghiên...

Hà Thành 10-10-2006
TKTT